RSS

心を伝えるあいさつ-Chào hỏi bằng cả trái tim-Heart to Heart Greetings.

以前 、ヨーロッパ を旅行したとき、こんな経験をした。 観光 バスに乗ってあちらこちら 見て回った 時のことである 。 私は三歳の孫 を抱いていた 。 バスに乗り合わせた 四十人ばかり の乗客 はみな外国人だった。 子供をかわいがる 人たちだとみえて 、私のそばを通る時に、孫 の顔を見てにっこり 笑ったり、手を振ったり 、孫 の手を握ったり 、あるいは 自国 の言葉で声をかけたり してくれる。

Trước kia, khi tôi đi du lịch Châu Âu, tôi đã có một trải nghiệm như thế này. Dó là chuyện tôi lên xe buýt du lịch rồi ngó nghiêng chỗ này chỗ kia. Tôi đang bế đứa cháu 3 tuổi. Bốn mươi người đồng hành cùng lên xe buýt đều là người nước ngoài. Lúc đi qua chỗ tôi, những người trông có vẻ yêu trẻ con đều nhìn vào khuôn mặt của cháu tôi mỉm cười, vẫy tay và nắm tay hay là chào bằng thứ tiếng của nước mình.

そのうちに 、一人の中年 の婦人 が突然 孫 の方に顔を寄せて 、日本語で「今日は」と言った。 意外な ことに私はびっくりして しまった。 いかにも 人の良さそうな 笑顔だった。 おそらく その人は日本に来たことがあるのだろう。 日本語を覚えていて、しかも 、私たちが日本人であることを知って、わざわざ 日本語であいさつをしてくれたのだろう。 私はこういう人たちに大変親しみ を感じた。

Lúc đó. một phụ nữ trung niên đột nhiên nghiêng mặt về phía cháu tôi và nói bằng tiếng Nhật “Konnichiwa” . Vì là chuyện ngoài mong đợi nên tôi rất ngạc nhiên.Khuôn mặt của bà trông thật sự là người tốt. Có lẽ bà đã từng đến Nhật. Có lẽ bà còn nhớ tiếng Nhật, hơn nữa, lại biết chúng tôi là người Nhật nên đã cất công chào hỏi bằng tiếng Nhật chăng? Tôi có cảm giác rất thân thiết với những người như thế.

こんな時、日本人だったらどうだろうか。 知らない人同士 がバスに乗り合わせたら、互いに あいさつをするだろうか。 どちらかと言うと 、あまり話をしないのではないかと思われる 。 殊に 私たちみたいな 子供連れの 外国人がいたら、その人たちに対して どんな態度 をとる だろうか。 おそらく 積極的に 声をかける人は少ないだろう。 知らない人と話すのは恥ずかしい、めんどうだ などと大部分 の人が思ってしまうのではないか 。

Những lúc như thế, nếu là người Nhật thì sẽ thế nào nhỉ? Nếu lên xe cùng với nhóm người lạ thì có cất tiếng chào hỏi nhau không? Biết nói sao nhỉ, thường thì sẽ bị nghĩ là không nói chuyện nhiều lắm. Đặc biệt là nếu có người nước ngoài dẫn theo trẻ con như chúng tôi thì người Nhật sẽ tỏ thái độ như thế nào với những người đó ?  Có lẽ sẽ có rất ít người cất tiếng chào hỏi tích cực. Việc nói chuyện với người không quen biết thì đa số mọi người thấy ngại ngùng và cũng thật phiền phức.

例えば、こんなこともあった。 ある日 の朝、ホテルの中庭 を散歩していたら、年配の 夫婦 に会った。 すれちがう 時に、「グッドモーニング」と声をかけられた。 私は実は 、黙って 通り過ぎよう と思っていたから、向こう からあいさつをされて、どぎまぎして しまった。

Chẳng hạn như, cũng có một chuyện như thế này. Có một buổi sáng nọ, lúc tôi đang tản bộ trong vườn của khách sạn thì tôi đã gặp một đôi vợ chồng ớn tuổi. Lúc đi ngang qua họ đã cất tiếng chào “Good morning!”. Thật sự là tôi đã định im lặng và đi qua nên lúc nhận được lời chào hỏi từ phía đó  thì tôi cảm thấy luống cuống.

むろん 何でも外国人のまねをした方がいいと考えているわけではない が、出会った 時に、声をかけるのは大事なことだと思われる 。 黙って 頭を下げても 、目礼 をしても、相手 にはこちらの気持ちが 伝わる だろう。 しかし、言葉を 添えた 方がいっそう 気持ちが通じる のではないだろうか 。 朝、出会った 時、元気な声で「おはようございます」と言えば、相手 も気分 がいいだろう。 感謝 をする時に、心を こめて 「ありがとうございます」と言えば、相手 も喜ぶだろう。 言葉は、自分の心を 相手 に伝える ものである。 できるだけはっきりと 言葉に出して 互いに 心を 伝え合い たいものである 。

Dĩ nhiên không hẳn là cái gì làm theo người nước ngoài cũng tốt, nhưng lúc gặp nhau thì chuyện cất tiếng chào hỏi được xem là chuyện quan trọng. Dù là im lặng gật đầu, dù là chào qua ánh mắt thì cũng là việc truyền cảm xúc của mình đến người khác. Nhưng chẳng phải việc kèm theo lời nói thì có thể nói là chuyển tải cảm xúc tốt hơn sao?. Buổi sáng, lúc gặp nhau, nếu nói với giọng khỏe khoắn là ” おはようございます” thì có lẽ người nghe cũng thấy tâm trạng tốt hơn. Lúc cảm ơn, từ đáy lòng mình mà nói   「ありがとうございます」 thì người nghe cũng vui. Lời nói là để chuyển tải cảm xúc của mình đến đối tượng. Nếu có thể thì tôi cũng muốn nói ra những lời mà có thể trao đổi càm xúc cùng với nhau.

Nguồn:

Tiếng Nhật: http://jplang.tufs.ac.jp/int2/yo/8/1.html

Dịch: Cua Đồng

Advertisements
 
 

さけが大きくなるまで- Cho đến khi cá hồi lớn lên…


さけは、北の海にすむ大きな魚です。あの七十センチメートルほどもある魚は、どこで生まれ、どのようにして大きくなったのでしょう。

Cá hồi là loài cá sống ở vùng biển phía Bắc. Loài cá dài tới những 70cm này được sinh ra ở đâu, và lớn lên ở đâu nhỉ?

秋になるころから、おとなのさけは、たくさんあつまって、たまごをうみに、海から川へやってきます。そして、いきおいよく川を下ります。三メートルぐらいのたきでものりこえて、川上へ川上へとすすんでいきます。

Khi mùa thu đến thì những con cá trưởng thành tập trung lại rất nhiều, đẻ trứng rồi từ biển bơi về sông. Rồi thì chúng mạnh mẽ tiến về phía sông. Dù cho là ngọn thác cao 3 mét đi nữa thì cũng vượt lên và tiến dần đền thượng nguồn và hạ nguồn.


やがて、水のきれいな川上にたどりつくと、さけはおびれをふるわせて、すなや小石の川ぞこをほります。そのあながふかさ五十センチメートルぐらいになると、そこへたくさんたまごをうんで、うめてしまいます。

Không bao lâu sau, chúng lần mò tới vùng nước trong ở thượng nguồn, cá hồi vẫy cái đuôi để đào những hạt cát và đá nhỏ ở đáy sông. Khi cái hang đạt đến độ sâu khoảng 50 cm  thì chúng đẻ rất nhiều trứng vào đó và chôn lấp lại.

冬の間に、たまごからさけの赤ちゃんが生まれます。大きさは二センチメートルぐらいです。はじめはちょうど赤いぐみのみのようなものをおなかにつけていますが、やがて、それがなくなって、三センチメートルぐらいの小魚になります。

Vào mùa đông, trứng nở thành những con cá nhỏ. Độ lớn khoảng 2 cm. Những con cá mà ban đầu giống y hệt như những trái viết màu đỏ thì tiếp tục trưởng thành, nhưng không bao lâu sau hình dáng đó sẽ mất đi và trở thành con cá nhỏ cỡ 3cm.
 
 春になるころ、五センチメートルぐらいになったさけのこどもたちは、海にむかって川を下りはじめます。まだ、力が弱いので、水にながされながら、いく日もいく日もかかって、川を下ります。

Khi mùa xuân đến, những con cá mà đã lớn khoảng 5cm đã bắt đầu bơi xuống sông và hướng về phía biển. Vì sức còn yếu nên chúng vừa bị nước cuốn và từng ngày từng ngày trôi qua, chúng đã bơi xuống được dòng sông. (Vì chúng được sinh ra ở thượng nguồn nên giờ bơi xuống dòng sông ^^)

 川を下ってきたさけの子どもたちは、一か月ぐらいの間、川の水と海の水がまじった川口のところでおよいでいます。その間に、十センチメートルぐらいの大きさになります。Những con cá hồi nhỏ mà đã bơi được xuống dòng sông thì trong khoảng 1 tháng chúng bơi trong vùng cửa sông có pha trộn giữa nước sông và nước biển. Trong thời gian này, chúng lớn lên tới khoảng 10 cm.

体がしっかりして、海の水になれてくると、いよいよ、広い海でのせいかつがはじまります。海には、たくさんのたべものがあります。それを食べて、ぐんぐん大きくなります。けれども、さめやあざらしなどに、たくさんのなかまがたべられてしまいます。

Khi cơ thể đã chắc khoẻ và quen với nước biển thì cuối cùng chúng cũng bắt đầu cuộc sống ở biển lớn. Ở biển thì có rất nhiều thức ăn. Chúng ăn những thức ăn đó và lớn lên như thổi. Tuy nhiên, chúng cũng bị cá mập, sư tử biển và rất nhiều đồng bọn của chúng ăn thịt.

ぶじに生きのこっておおきくなったさけは、三年も四年も海をおよぎ回ります。そして、たまごをうむときには、自分が生まれたもとの川へ帰ってくるのです。

Những con cá hồi được sống sót bình an thì bơi quanh biển đến tận 3 hoặc 4 năm. Và rồi vào mùa đẻ trứng, chúng lại quay về dòng sông nơi chúng đã được sinh ra.

Nguồn:

Tiếng Nhật: http://blog.livedoor.jp/hirohirosunny/archives/7843353.html

Dịch: Cua Đồng

 

Xin chia sẻ với mọi người bản dịch hay hơn 🙂

CHO ĐẾN KHI CÁ HỒI LỚN LÊN

Cá hồi là loài cá lớn sống ở vùng biển phía Bắc. Loài cá có chiều dài khoảng 70cm đó được sinh ra ở đâu, lớn lên như thế nào?

Từ khi trời sang thu, những con cá hồi trưởng thành tập trung lại rất đông, chúng từ biển bơi về sông để đẻ trứng. Chúng bừng bừng khí thế vượt qua những dòng sông. Cả dòng thác khoảng 3m nó cũng vượt qua, hướng đến hết thượng nguồn này đến thượng nguồn khác. Cuối cùng nó cũng lần dò đến được thượng nguồn nơi có dòng nước trong veo. Cá hồi vẫy cái đuôi của nó, rồi đào cát đá ở đáy sông. Khi đào được độ sâu khoảng 50cm, nó đẻ thật nhiều trứng vào cái hang đó, rồi lấp hết lại.

Vào mùa đông, từ những quả trứng nở ra những chú cá hồi con. Độ lớn khoảng 2cm. Lúc đầu, nó mang trên bụng cái vật giống như là quả gumi đỏ (quả hồ tử), nhưng cuối cùng cái đó cũng mất đi, rồi trở thành những chú cá con khoảng 3cm.

Khi trời xuân sang, những chú cá hồi con đã lớn lên 5cm bắt đầu xuống sông hướng ra biển. Nó thả mình theo dòng nước, mất rất nhiều ngày để xuống sông. Những chú cá hồi con xuống tới sông, trong khoảng một tháng, chúng sống ở cửa sông nơi mà nước sông và nước biển giao thoa với nhau. Trong thời gian đó, chúng lớn lên với độ lớn khoảng 10cm.

Sau khi đã quen với nước biển, cơ thể đã rắn chắc, cuối cùng, chúng bắt đầu cuộc sống ở biển rộng. Ở dưới biển thì có rất nhiều thức ăn. Ăn những thứ đó, chúng lớn nhanh vùn vụt. Thế nhưng mà, rất nhiều đồng loại của chúng bị ăn thịt bởi cá mập, sư tử biển…

Những con cá hồi còn sống sót, lớn lên một cách bình an vô sự thì sống ở biển đến 3 hay 4 năm. Và lúc sắp đẻ trứng,  từ biển Bắc chúng bơi về con sông nơi mà chúng được sinh ra.

Nguồn: https://www.facebook.com/notes/%E5%8B%89%E5%BC%B7%E3%81%AB%E3%81%AA%E3%81%A3%E3%81%9F%E6%97%A5%E6%9C%AC%E8%AA%9E/b%C3%A0i-d%E1%BB%8Bch-%E3%81%95%E3%81%91%E3%81%8C-%E3%81%8A%E3%81%8A%E3%81%8D%E3%81%8F-%E3%81%AA%E3%82%8B%E3%81%BE%E3%81%A7/544555925605291

 
 

IELTS Practice writing task 2: Music in life – 音楽ーÂm nhạc cuộc sống

TOPIC: There are Many different types of music today. Why do we need music? Is there traditional music of a country more important than the international music that is heard every where nowadays?

When the living standard is improved, people are easy to choose their favorite entertainment such as movies, concerts, games… However, the most popular is listening to music. Why music can reach the highest recommend when we are asked about favorite activities in our free time? This essay will focus on illustrating several reasons to answer this question and giving personal opinion about the traditional music and international music.

In recent years, various kinds of music such as Pop, Ballad, R&B, Hip-hop…are becoming more closed with the public than they used to be. When we are tired of high working pressure or get in troubles, people are fond of choosing songs and listening. After that, they feel more comfortable and relaxed. Like this, music is one of the best methods to reduce stress and make people think more optimistically. In addition, music can give inspiration to work, learn or fight. In the past, when the wars occurred, numerous songs were composed to raise the spirit of soldiers, so they have more power to fight against enemy. Large number of composers wrote songs not because of the reputation, but the chance to convey their feelings and told their life stories by musical notation. Those songs were learned by heart by the general public because they sympathized with those feelings of music writers.

Because of those necessities of music, people not only listen to national music, but also international songs because they love the foreign languages, thymes or singers. In my opinion, music can be listened anywhere and anytime, regardless of languages, nations, races or genders. However, although the youth is likely to prefer international music, especially English songs, the national music is dear to hearts. Firstly, local songs are written in native language so the local community from child to the elderly can understand them. Moreover, communities have their own traditional or folk music and it helps human beings get connected with the cultural heritage.

In conclusion, a variety of songs are played because they can make life to be more beautiful, convey the feelings among people and give inspiration to work and learn effectively. Nonetheless, national songs always have a special part in our souls despite the popularity of international music.

Writer: Cua Đồng

 
Leave a comment

Posted by on April 1, 2013 in IELTS

 

桜の花ーCherry Blossoms- Hoa anh đào.

 

桜は日本の代表的な 花である。 毎年春になると、日本の各地で美しい花を咲かせ 、人々を楽しませる.
Sakura is a typical flower of Japan. Every year when spring comes, in all places of Japan, the beautiful flowers bloom and make people feel very comfortable.
Hoa anh đào là loài hoa đặc trưng của Nhật Bản. Mỗi năm khi mùa xuân đến, ở khắp mọi nơi trên Nhật Bản, những bông hoa đẹp nở rộ làm cho mọi người cảm thấy vui vẻ thoải mái.
桜にはどのぐらい種類があるのだろうか。 桜は、昔から日本の野 や山に自然に 生えていたが、種類はあまり多くなかった。 しかし、人々の手によって いろいろな種類が作られ、今では 、三百種 ぐらいになっている。 
How many types of cherry blossom trees? In the past, cherry blossoms grew naturally in the mountains and plains of Japan, but not many types. Then, thanks to the human’s hands, many types of cherry blossoms have been created, and now, reach to nearly 300 types.
Hoa anh đào có khoảng bao nhiêu loại?  Ngày  xưa, ở các vùng núi và miền đồng bằng Nhật Bản, cây anh đào mọc tự nhiên nhưng không có nhiều loại lắm. Và rồi, nhờ vào bàn tay con người mà nhiều loại hoa đã được tạo ra, bây giờ thì, đã có khoảng 300 loại.
桜の花は、色がだいたい同じで、ほとんど白かピンクである。 ピンクには薄い のも、濃い のもある。 花びら はふつう五枚あって、輪 のように丸く並んでいる。 
The colors of cherry blossoms are quite similar, mostly in white or pink. There’re light pink or deep pink blossoms. Flowers usually have five petals and arrange as a circle.
Màu sắc của hoa anh đào tương đối giống nhau, hầu hết là màu trắng hoặc hồng. Màu hồng nhạt cũng có, màu hồng đậm cũng có. Cánh hoa thường có năm cánh xếp lại như một vòng tròn.
桜の花は暖かくなってから咲くが、花の開く日は地方によって違う 。 日本は、南北に 細長い 国なので、南の端と北の端とでは緯度 の差 が20度もあり、気候 も違う。 北に行けば行くほど 桜の咲く時期 が遅くなるのである.
Cherry blossoms bloom when the weather becomes warm, but the time of blooming is different depends on regions. Because Japan is long and narrow from north to south, so in north pole and south pole, the latitudes are 20 degree different and the climate is also different. The more upward to the North, the late cherry blossoms bloom.
Hoa anh đào nở khi thời tiết trở nên ấm áp, nhưng ngày hoa nở thì khác nhau tùy mỗi vùng. Nhật Bản vì là đất nước dài và hẹp từ Bắc đến Nam, nên cực bắc và cực nam có vĩ độ chênh nhau 20 độ, khí hậu cũng khác nhau. Càng về phía Bắc thì thời gian hoa anh đào nở càng trễ.
一番初めに桜が咲くのは、やはり 南の端の沖縄 で、一月中旬 である。 そして、三月の下旬 に九州南部 で咲く。 東京で咲き始めるのは四月初旬 ごろで、ちょうど 入学式 や入社式 の時期 に当たる 。 北海道で桜が咲き、春らしい 季節を迎えるのは、五月になってからである 。
The first cherry blossoms bloom in the Southern of Okinawa, in the middle of January. And at the end of March, the flowers bloom in the Southern of Kyushu. In Tokyo, the blooming time is in early of April, as the same time with the begining of a school year and companies’s recruitment. Cherry blossom in Hokkaido likely to welcome the spring because it bloom timely in May.
Hoa anh đào nở sớm nhất là ở vùng cực Nam của đảo Okinawa, vào khoảng giữa tháng giêng. Và vào cuối tháng ba thì hoa nở ở vùng  phía nam của Kyushu. Thời gian hoa bắt đầu nở ở Tokyo là vào đầu tháng tư,  đúng vào thời gian nhập học và thời gian các công ty nhận người mới. Hoa anh đào nở ở Hokkaido như để chào đón mùa xuân vì vào đúng tháng năm.
桜の木は学校、公園、お寺、神社などに植えてある 。 たくさんの桜が一度に 咲くと、東京の上野公園 や新宿御苑 などはピンクの花でいっぱいになる 。 しかし、花は、開いてからたった 四日か、五日で散って しまう。 人々は、美しい花が散らないうちに 、桜の木の下に集まり、お酒を飲んだり、ごちそう を食べたり、歌を歌ったりして楽しむ。 これは花見 という行事で、三月から五月にかけて各地で行われる。 
Cherry trees are often planted in schools, parks, temples, shrines, etc. When a lot of flowers bloom at the same time, places such as Ueno Park in Tokyo and Shinjuku Garden are full of pink flowers. However, since it bloomed, the flowers will wither after only four days. People take advantges of the beautiful flowers to gather under a tree, eat, sing and play. This is an occasion called “Enjoy the flowers”, which is held from March to May in many places.
Cây hoa anh đào được trồng ở trường học, công viên, đền, miếu,.. Và khi rất nhiều hoa anh đào nở cùng một lúc, thì lúc đó những nơi như Công viên Ueno ở Tokyo và vườn ngự uyển Shinjuku sẽ tràn ngập hoa màu hồng. Tuy nhiên, kể từ lúc nở thì những bông hoa chỉ sau bốn năm ngày đã rụng. Mọi người tranh thủ trong lúc hoa chưa tàn thường  tụ tập dưới gốc cây , ăn uống, hát hò, vui chơi. Đây là dịp gọi là Ngắm hoa, được tổ chức khắp mọi miền khoảng từ tháng ba đến tháng năm.

 

花見 は昔から行われてきた行事だが、農家にとって はもっと重要な 意味もあった。 農民 たちは、満開 の桜を見て、秋には米がたくさん実り 、食べ物には不自由しないと信じた 。 そして、それを喜び、満開 の花の下でおなかいっぱい飲んだり、食べたりして祝った 。

“Enjoy the flowers” is an event which has been held since bygone days, but for farmers, it also has an important meaning. Farmers who see the cherry blossoms bloom, they believe that the fall harvest will yield more than usual, and they won’t be starveling. After that, they enjoy and sit under a tree with blooming flowers, praise and eat and drink well.

Việc ngắm hoa là một sự kiện đã được tổ chức từ thời xa xưa, nhưng và đối với người nông dân thì còn có ý nghĩa rất quan trọng . Người nông dân khi nhìn hoa anh đào nở rộ, họ tin rằng vụ thu hoạch lúa mùa thu sẽ bội thu, thực phẩm sẽ không bị thiếu. Và họ vui mừng, ngồi dưới gốc cây có hoa nở rộ mà chúc tụng và ăn uống no say.

桜の花は、見て楽しむだけではない。 人々は、桜の花びら から作った桜茶 を飲み、桜の葉を巻いた 桜もち を食べたりして、春という季節を感じる 。 桜の花は、日本人にとって 春を象徴する 花なのである。
Cherry blossoms are not just looked for fun. People also drink tea made ​​from the petals or eat sticky cake wrapped up by leaves and enjoy the taste of spring. For the Japanese residents, cherry blossom is typical flower which symbolizes the spring.
Hoa anh đào không chỉ để ngắm cho vui. Người ta còn uống trà làm từ cánh hoa hoặc ăn bánh nếp gói từ lá hoa anh đào và cảm nhận hương vị của mùa xuân. Hoa anh đào đối với người Nhật là loài hoa tượng trưng cho mùa xuân.

Nguồn:

Tiếng Nhật: http://jplang.tufs.ac.jp/int2/yo/5/1.html

Dịch: Cua Đồng

TỪ MỚI TRONG BÀI:

代表的 (だいひょうてき): đại diện /represent
咲かせる (さかせる): làm cho nở hoa / make flower bloom
人々を楽しませる (ほおびとをたのしませる): làm cho mọi người vui / make people feel happy
野 (の): cánh đồng / paddy field
自然 (しぜん): tự nhiên / naturally
~によって:  bởi ~ / by~
三百種 (さんびゃくしゅ): 300 lọai / 300 types
薄い (うすい): nhạt / light
濃い (こい): đậm/ deep
花びら (はなびら): cánh hoa / petal
輪 (わ): vòng tròn / circle
(南北)(なんぼく): Nam đến Bắc / south to north
細長い (ほそながい) dài và hẹp /long and narrow
緯度 (iいど): vĩ độ /platitude
差 (さ): sự khác biệt /difference
気候 (きこう): khí hậu / weather
~ば~ほど: càng~ càng~ / the more~he more~
やはり :Chắc / surely
沖縄 (おきなわ) Okynawa
中旬 : (ちゅうじゅん) trung tuần / mid-month
下旬 (げじゅん) hạ tuần/ last ten days of a month
初旬 (しょじゅん): thượng tuần / first ten days of a month
入学式 (にゅうがくしき): lễ khai giảng / The start of a new school year
入社式 (にゅしゃしき): lễ vào công ty / The start of companies’s recruitment
ちょうど~に当たる (ちょうど~にあたる): đúng vào / timely
上野公園 (うえのこうえん): Công viên Ueno / Ueno park
新宿御苑 (しんじゅくぎょえん)Công viên quốc gia Shinjuku Gyoen/ Shinjuku Gyoen National Garden:
散る ( ちる): rơi rụng/ fall,tumble
~うちに : trong lúc / while
ごちそう : ăn tiệc/ have a party
重要 (じゅうよう): quan trọng/ important
農民 (のうみん): nông dân/ farmer
満開 (まんかい): nở rộ/ flourish
実り (みのり): kết quả, chín/ ripe,bear fruit
祝う (いわう): chúc, cầu nguyện / pray
巻く (まく): gói/ wrap up
感じる (かんじる): cảm thấy/ feel
象徴する(しょうちょうする): tượng trưng / symbolize

 
 

日本人と洋服- Japanese people and Clothes- Người Nhật và Âu phục.

第二次世界大戦 後 、日本人の生活は大きく変化 した。 洋服を着るようになったのもその一つの例である。
Sau đại thế chiến thứ hai, cuộc sống của người Nhật đã thay đổi rất nhiều. Việc mặc âu phục là một ví dụ trong số đó.

After the Second World War, Japanese’s life had changed a lot. Wearing western style clothes is an example of that.

日本人が洋服を着始めたのは、明治時代 である。 当時 も、軍隊 や警察の制服は洋服であった が、普通の人々はまだ、着物を着ていた。 特に女性は、着物の人が多かった。 その後 、洋服を着る女の人は少しずつ 増えていったが、昭和の初めに行われた調査 の結果でも、洋服を着ている女性は、二割 ぐらいしかいなかった。

Việc người Nhật bắt đầu mặc âu phục là từ thời Minh Trị. Vào thời đó, trang phục của quân đội và cảnh sát đã là âu phục nhưng người dân thường thì vẫn mặc kimono. Đặc biệt là trong giới nữ, người phụ nữ mặc kimono rất nhiều. Sau đó thì số phụ nữ mặc âu phục tăng lên từng chút một nhưng theo kết quả điều tra được tiến hành vào thời đầu Chiêu Hòa thì việc phụ nữ mặc âu phục chỉ khoảng 20%.

The people began to wear outfits since the Meiji Era. At that time, police and military’s uniforms were outfits but ordinary people still wore kimonos. Especially in women, many of them wore kimonos. Then, the number of women wearing outfits went up gradually. However, according to a survey conducted in early Showa Era, the women wore western style clothes just about 20%.

ほとんどの 人が洋服を着るようになったのは、戦後 である。 現在 は、老人 でも、ふだん着物を着る人は少なくなった。

Khi đa số phụ nữ mặc âu phục là vào thời hậu chiến. Hiện tại thì, ngay cả người già, việc thường mặc kimono cũng đã ít đi.

The period when most women wore outfits was in the post-war. Currently, number of the elderly who often wore kimonos has been downward.

.

着物は、大変美しいが、着るのに時間がかかるし、動きにくい 。 特に、階段を上ったり、自転車に乗ったりスポーツをしたりする時、不便である。 しかし、洋服は着たり脱いだりするのも簡単だし、動きやすい。それで、洋服を着る人が増えてきたのである。

Kimono thì rất đẹp nhưng việc mặc thì mất thời gian và khó di chuyển. Đặc biệt là lúc đi lên cầu thang , lúc leo lên xe đạp hay lúc chơi thể thao thì bất tiện. Còn âu phục thì dễ mặc, dễ cởi, và cũng dễ di chuyển nữa. Do đó mà số người mặc âu phục ngày càng tăng lên.

Kimono is very nice but it is not only time-consuming when wearing but also difficult to move. Especially when we go up the stairs, ride bike or play sports, it is very inconvenient. Otherwise, costume is easy to wear, take off and move. So the number of public who wear outfits is going up.

明治時代 に日本に入ってきた洋服は、このように、百年ぐらいの間に日本人の生活に欠かせないものになった。 そして、着る人の少なくなった着物は、正月や成人式、結婚式など、特別な時にだけ着るものに変わった。

Âu phục mà đã du nhập vào Nhật bản từ thời Minh Trị, và cứ như vậy trong khoảng thời gian cả trăm năm, nó đã trở thành điều không thể thiếu được trong sinh hoạt của người Nhật. Vì vậy, những bộ Kimono mà đang được ngày càng ít người mặc thì đã trở thành y phục chỉ dành cho các dịp lễ cưới, lễ thành nhân, dịp tết, v.v…

Western clothes that were introduced into Japan in the Meiji Era, and so on over a hundred years, it has become indispensable in life of the Japanese people. Therefore, the kimonos which are worn by less and less people is becoming clothes just for special occasions such as wedding, holidays, Lunar New Year, etc.
.

Nguồn:

Tiếng Nhật:http://jplang.tufs.ac.jp/int2/yo/3/1.html

Dịch: Cua Đồng

TỪ VỰNG TRONG BÀI:
現在 (げんざい): hiện nay (Recently…)
第二次世界大戦後 (だいにじせかいたいせご):Sau Chiến tranh TG thứ 2 ( The Post-war of World War II)
変化 (へんか): thay đổi (change)
明治時代(めいじじだい): triều đại Minh Trị (Meiji Era)
当時 (とうじ): Vào lúc đó (At that time)
軍隊 (ぐんたい): quân đội (military)
調査(ちょうさ): điều tra (survey)
二割 (にわり): 20%
老人(ろうじん): người già (the elderly)

 
 

りんご- Táo- Apple

りんごは寒い地方で作られる。 青森県 と長野県 が、その産地 として 、特に有名である。
Táo thì được trồng ở những vùng lạnh. Aomori và Nagano được xem như là những vùng trồng táo nổi tiếng.
Apples are grown in cold areas. Aomori and Nagano are considered as the famous apple-growing regions.
りんごの花は五月に咲く。 そして、小さい実がたくさんなる。 一本の木に、あまり 多くの 実がなる と、大きい実ができない。 だから、丈夫そうな実だけ を残して 、外の実はとってしまう。Hoa táo nở vào tháng 5. Và rồi, bắt đầu kết thành những trái nhỏ. Nếu trên một cây mà có quá nhiều trái thì không thể thành trái to được. Vì thế, chỉ để lại những trái có vẻ tốt, còn lại thì hái bỏ đi.

Apple’s flowers bloom in May. Then, they become small fruits. If there are too many small fruits in a tree, they cannot be the big ones. So (the farmers) leave good fruits, and pick up the others)
害虫がつく のを防ぐ ために、袋をかぶせたり 農薬 をかけたり 、いろいろと世話 をして育てる。
Để phòng sâu hại tấn công, người ta chăm sóc bằng nhiều cách như là bọc lại bằng bao, xịt thuốc trừ sâu…
To prevent pest attack, they take care of them in many ways such as wrapping them in covers, spraying pesticides ..
りんごにはいろいろな種類 がある。 形の大きいものもあるし、小さいものもある。 色の赤いのもあるし、黄色いのもある。 また、夏ごろから食べられるものや、秋の終わり でなければ 、食べられないものもある。Táo có nhiều loại. Có loại hình dáng to, loại nhỏ, loại màu đỏ, loại màu vàng. Cũng có loại có thể ăn vào khoảng mùa hè, cũng có loại nếu không phải là cuối thu thì không thể ăn được.

There are many types of apples. Large shape, small shape, red , yellow . There’re also apples can be eaten in summer, and there’s also the type we cannot eat if the autumn is still not end.
寒い地方でとれた りんごは、箱に詰められ 、貨物 列車 やトラック に積まれて 、外の地方へ運ばれる。
Táo được hái ở những vùng lạnh sẽ được đóng hộp, chất lên xe tải và tàu lửa chuyên chở hàng, mang đến những vùng khác.
Apples which are harvested in cold regions are boxed, loaded into trucks and good trains,then be brought to other areas.
そして、町の果物屋 や八百屋 の店先 に並べられる のである。
Và rồi, táo sẽ được bày bán ở trước tiệm rau quả hay tiệm trái cây trong thành phố.
And then, apples will be showed in front of the grocery stores or fruit shops in the city.
Nguồn:
Dịch: Cua Đồng
Từ vựng trong bài: 
産地 (sanchi) : nơi sản sinh ra
青森県 (aomoriken): một huyện phía Đông Bắc Nhật
長野県 (Naganoken) : Một huyện miền Trung Nhật
~として(有名である)(toshite yuume de aru): được biết đến như là
実がなる (mi ga naru): kết trái
Nだけ : (N dake) : chỉ
残して・残す(nokosu): còn
害虫がつく (gaichyuugatsuku)  : bị sâu bọ
防ぐ(fusegu): phòng
かぶせたり・かぶせる (kabuseru): bao lại
農薬 (nouyaku): thuốc (trừ sâu)
かけたり・かける: xịt thuốc (nghĩa trong bài)
世話: (sewa): chăm sóc
種類( syurui): chủng loại
とれた・とれる(toreru): hái
詰められ・詰める (tsumeru): đóng hộp, đóng gói
貨物列車(kamotsu ressya): tàu vận chuyển hàng
積まれて・積む (tsumu): chất lên
果物屋 (kudamonoya): tiệm bán trái cây
八百屋 (yaoya): tiệm rau quả
店先 (mise saki) : trước tiệm
並べられる・並べる (naraberu): sắp xếp
 
 

うめの花と てんとう虫 (Hoa mai và bọ rùa)

DPP_4210[1]

春の はじめの お話です。

山の てっぺんから、お月様が 顔を 出して、「はっくしょん。」と、くしゃみを しました。
今夜は とても まむいのです。ふもとの 村の うめの えだでも、 だれかが、「くしょん。」と、くしゃみを して います。
だらかな。
きのう、あたたかだったので、ほろほろっと 一つ、白い うめの 花が さいたのです。

すると、もう 一つ、「くしょん。」
見ると、うめの 花の すぐ そばで、てんとう虫が ふるえて います。
赤い えりまきを して いるのですけど、ぷるぷる ぷるぷる ふるえて、なきそうです。

Đây là câu chuyện vào đầu mùa xuân. Từ trên đỉnh núi, ông mặt trời ló dạng, và lên tiếng ‘hắt xì’ một cái. Đêm nay trời rất lạnh. Trên cành mai dưới ngôi làng ở chân núi, có ai đó cũng ‘hắt xì’ một cái. Ủa, ai vậy ta? Vì hôm qua thật là ấm áp, nên một bông hoa mai trắng nở khẽ khàng.

Bỗng nhiên, một tiếng ’hắt xì’ lại vang lên. Nhìn kìa, có một chú bọ rùa đang run rẩy ngay bên cạnh bông hoa mai. Mặc dù đang quàng một chiếc khăn màu đỏ, chú vẫn run lẩy bẩy, giống như là đang khóc vậy.

「あらら。今ごろは まだ、みんな いっしょに ねむって いるんじゃ なかったの。」
うめの 花は、びっくりして たずねました。
「ぼく、すっかり 春だと 思ったの。きのう あんなに あたたかだったでしょう。ねどこから ひど出して、あっちこっち あそんでたの。そしたら、そしたら、こんなに さむく なるんだもの。もう、さむいし、さびしいし。くしょん。ぼく、何て あわてんぼだろう。」
てんとう虫は、下を むいて、また、ぷるぷるっと ふるえました。
「そうたったの。わたしも、やっぱり あわてんぼなの。ひとりで 先に さいて しまって。さむくて、さびしくて。くしょん。」
うめの 花も、ぷるぷるっと ふるえて、くしゃみを しました。

“A. Bây giờ chẳng phải mọi người vẫn còn đang ngủ sao?”
Hoa mai thấy ngạc nhiên và hỏi thăm.
“Tôi cứ tưởng mùa xuân đã đến rồi. Ngày hôm qua ấm áp thế cơ mà. Tôi đã rời tổ và bay đi chơi khắp đó đây. Sau đó, sau đó thì trời trở nên lạnh lẽo đến thế này. Vừa lạnh, mà cũng vừa buồn nữa. Hắt xì. Tôi thật làm một chú bọ vội vàng.”
Chú bọ rùa hướng xuống, tiếp tục run rẩy.
“Ra là vậy. Em cũng vậy đó, cũng là một chú bọ vội vàng. Em đã lỡ nở trước một mình mất rồi. Đã lạnh, lại còn buồn nữa. Hắt xì.”
Hoa mai cũng run lên vì lạnh, hắt xì một cái.

お月様は、こおりみたいに、すべすべ きんきんと 光って、つめたい 光を ふらせます。
山も 村も、草や 木も、しいんと だまって、つめたい 光を あびて います。

「ね、こんやは、わたしの ところで、おやすみなさい。」
「うん、ありがとう。きみが、さいて くれて よかった。」
その 夜、てんとう虫は、うめの 花に つつまれて、ほかほかと ねむりました。
うめの 花も、てんとう虫と いっしょに いて、ふんわり あたたかでした。

Ông trăng chiếu ánh sáng mượt mà và lạnh giá như nước đá. Cả núi cả thôn làng, cả cỏ và cây đều tĩnh lặng tắm mình trong ánh sáng lạnh giá.

“Này, tối nay hãy ngủ lại ở lại chỗ của em nhé.”
“Ừm, cám ơn em. Thật là tốt khi em đã nở cùng tôi.”

Đêm đó, bọ rùa được bé hoa mai bao bọc nên đã ngủ một giấc thật ấm áp. Ở cùng với bọ rùa, bé hoa mai cũng thấy nhẹ nhàng, ấm áp.

つぎの 朝は、ゆうべの さむさが うそみたい。ぽかぽかした よい 天気です。
てんとう虫と うめの 花は、くしゃみも わすれて 元気です。

そこで、てんとう虫は、はたけの 方へ とんで いく ことに しました。
あそこなら、お日様が 一日じゅう あたって いるから、きっと すっかり 春です。

Sáng hôm sau, cái lạnh tối hôm qua giống như là đùa vậy. Thời tiết dần ấm và đẹp hơn. Bọ rùa và hoa mai đều khỏe khoắn và quên cả hắt xì. Ngay sau đó, bọ rùa đã quyết định bay về phía cánh đồng. Ở nơi ấy, ông mặt trời hẳn là chiếu sáng suốt cả ngày, chắc chắn là mùa xuân rồi.
「このえりまき、きみに あげる。」
てんとう虫は、赤い えりまきを、うめの 花びらの 中に、そっと おきました。
「まあ、きれい。ありがとう。」
「あのね、ぼく、あわてんぼで よかった。きみと 友だちに なれたから。」
「わたしも、あわてんぼで よかった。あなたと 友だちに なれたから。」
いい においの 風に つつまれて、うめの 花と てんとう虫は、しばらく じっとして いました。
「また あそびに 来て いい。」
「ええ、もちろん。」
「さよなら。また いつかね。」
「さよなら。きっと また いつかね。」
てんとう虫は、何度も ふりかえりながら、とんで いきました。

“Chiếc khăn quàng cổ này anh xin tặng lại cho em.”
Chú bọ rùa nhẹ nhàng đặt chiếc khăn vào giữa cánh hoa mai.
“Ôi,  đẹp quá. Cám ơn anh.”
“Em biết không,vội vàng cũng hay đấy nhỉ. Vì anh đã có thể làm bạn với em.”
“Em cũng thấy vội vàng cũng tốt. Vì có thể trở thành bạn của anh.”
Được bao bọc bởi ngọn gió thơm lành, hoa mai và bọ rùa đều yên lặng.
“Lần sau anh lại đến chơi nữa nhé?”
“Tất nhiên rồi.”
“Tạm biệt. Hẹn lúc nào đó nhé.”
“Tạm biệt. Nhất định lúc nào đó gặp lại nhé.”
Chú bọ rùa bay đi, vẫn ngoảnh lại nhìn không biết bao nhiêu lần.

うめの 花の 中には、赤い えりまきが、ぽつりと 一つ。
今度、てんとう虫が あそびに 来た とき、すてきな 目じるしに なるでしょうね。

Ở giữa hoa mai có một chiếc khăn quàng cổ màu đỏ lẻ loi.
Lần sau, khi chú bọ rùa lại đến chơi, chiếc khăn này sẽ là một dấu hiệu tuyệt vời.

(くどう なおこ)

Nguồn:

Tiếng Nhật: Sách truyện đọc.

Dịch: Cua Đồng

 

Xin chia sẻ với mọi người 1 bản dịch khác hay hơn 🙂

HOA MAI VÀ BỌ CÁNH CAM

Đây là câu chuyện đầu xuân. Từ đỉnh núi, ông trăng ló dạng, rồi hắt hơi một tiếng “hắt xì”. Vì tối nay trời thật lạnh. Ngay cả  nhánh mai ở ngôi làng dưới chân núi, cũng có ai đó đang hắt hơi: “hắt xì”. Ai vậy ta?.          Vì hôm qua trời thật ấm áp nên một hoa mai trắng đã nhẹ nhàng hé nở. Ngay sau đó, lại có tiếng hắt hơi nữa “hắt xì”. Khi nhìn qua, ở ngay bên cạnh hoa mai, bọ cánh cam đang run rẩy. Tuy đang quấn chiếc khăn choàng cổ đỏ nhưng lại run lẩy bẩy như là sắp khóc. Hoa mai ngạc nhiên hỏi thăm: “Ôi chao, chẳng phải lúc này anh vẫn đang cùng mọi người ngủ hay sao?”. “Anh cứ tưởng là trời đã sang xuân rồi, hôm qua trời ấm áp đến thế mà? Anh bay ra từ chỗ ngủ, đi chơi khắp nơi. Và rồi, vì trời trở nên lạnh như thế này. Lạnh quá, buồn quá, hắt xì. Anh đúng là đứa hấp tấp”. Bọ cánh cam cúi mặt xuống rồi lại run lên lẩy bẩy. “ Ừ nhỉ, em cũng quả thực là đứa hấp tấp, đã một mình nở trước, lạnh quá, buồn quá, hắt xì”. Hoa mai cũng run lên lẩy bẩy rồi hắt hơi.

Ông trăng thì trông giống như băng tỏa sáng lấp lánh, chiếu ánh sáng lạnh lẽo. Núi cũng như thôn làng, rồi cỏ, rồi cây tất cả im phăng phắc tắm mình dưới ánh sáng lạnh lẽo đó.

“Nè. Tối nay anh hãy nghỉ lại ở chỗ em nha”. “Ừm, cảm ơn em, được em nở ra cùng anh thật là tốt”. Tối hôm đó, bọ cánh cam vì được hoa mai ấp ủ nên đã ngủ rất ấm. Hoa mai vì  ở bên bọ cánh cam, nên cũng cảm thấy rất ấm áp.

Sáng hôm sau, cái lạnh của tối qua giống như chuyện đùa. Thời tiết thật ấm áp. Hoa mai và bọ cánh cam trở nên khỏe hẳn, quên cả những cái hắt hơi tối qua. Do vậy, bọ cánh cam đã quyết định bay về phía nương rẫy. Nếu là đằng kia thì vì mặt trời tỏa sáng cả ngày nên mới là mùa xuân hoàn toàn. “Cái khăn choàng này, anh tặng em”. Bọ cánh cam nhẹ nhàng đặt cái khăn choàng đỏ vào cánh hoa mai. “Ôi, đẹp quá, cảm ơn anh”. “Này, anh dẫu là đứa hấp tấp cũng hay. Vì đã có thể trở thành bạn với em”. “Em cũng vậy, dẫu là đứa hấp tấp cũng hay. Vì đã có thể trở thành bạn với anh”. Hoa mai và bọ cánh cam được bao bọc bởi làn gió thơm ngát, lặng im bên nhau một lúc. “Anh lại đến chơi được không?” “Vâng, tất nhiên rồi”. “Chào em, hẹn gặp lại vào một ngày nào đó nhe”. “Chào anh, chắc chắn một ngày nào đó chúng ta sẽ gặp lại nhau”. Bọ cánh cam vừa bay đi vừa ngoảnh mặt lại không biết bao nhiêu lần. Ở giữa hoa mai có độc nhất một cái khăn choàng đỏ. Lần tới, khi bọ cánh cam đến chơi, đó sẽ trở thành một dấu hiệu tuyệt vời, đúng không nhỉ?!

Nguồn: https://www.facebook.com/notes/%E5%8B%89%E5%BC%B7%E3%81%AB%E3%81%AA%E3%81%A3%E3%81%9F%E6%97%A5%E6%9C%AC%E8%AA%9E/b%C3%A0i-d%E1%BB%8Bch-truy%E1%BB%87n-%E3%81%86%E3%82%81%E3%81%AE%E3%81%AF%E3%81%AA%E3%81%A8%E3%81%A6%E3%82%93%E3%81%A8%E3%81%86%E3%82%80%E3%81%97/544552098939007