RSS

Category Archives: 勉強-Learning-Học hành

(短いのパラグラフ) ベトナム料理の特徴と手羽先のヌックマムの作り方ー (Đoạn văn) Đặc trưng món ăn Việt Nam và cách làm món Cánh gà chiên nước mắm.

ベトナム料理は、色々な国の影響を受けていますが、ベトナム固有の特徴食べ物がたくさんあるので、他の国の食べ物と間違えないとおもいます。

Tuy món ăn Việt Nam bị ảnh hưởng bởi nhiều nước nhưng vì ở Việt Nam vẫn có rất nhiều món mang những nét đặc trưng vốn có nên tôi nghĩ là không thể nhầm lẫn với những món của nước khác được.

ベトナムは細長い国なので、地域によって気候が違います。それで、地方の料理は異なる特徴があります。北部の食べ物は味がよく塩辛いですが、中部はすっぱくて、辛いです。南部にいくと、甘い食べ物がたくさんたべられます。また、ベトナム人は、料理を作る時、調味料だけではなく、色々な香草を使っています。特に、ベトナムにはヌックマムとマムトムがあるので、それらを使って、おいしい料理を作ることができます。

Vì nước Việt Nam là nước có hình dạng thon dài, nên khí hậu khác nhau theo từng khu vực. Vì vậy, món ăn của từng địa phương cũng có đặc trưng riêng. Vị của món ăn Bắc Bộ thường thì mặn nhưng đồ ăn ở Trung Bộ thì chua và cay. Nếu đi về phía Nam thì lại có thể ăn được rất nhiều món ăn ngọt.

私は外国人の友達に “ベトナムの料理をお勧めてくれる”と聞かれた時、すぐ私の一番好きな料理を勧めます。名前は手羽先のヌクマム揚げで、これも南部の有名料理です。この料理はビールや酒のつまみにも良いですが、ご飯とも良く合うおかずです。

Khi mà tôi được bạn bè nước ngoài nói là ” Giới thiệu vài món ăn Việt Nam cho tôi được không?” , lập tức tôi giới thiệu món mà tôi thích nhất, tên là Cánh gà chiên nước mắm và cũng là món ăn nổi tiếng của miền Nam. Món ăn này vừa là “đồ nhắm” (mồi nhậu ^^) ngon của bia và rượu nhưng ăn cùng với cơm cũng rất là hợp.

手羽先のヌくマム揚げの材料は手羽先、ヌックマム、片栗粉、ニンニクと調味料です。この料理の作り方はあまり難しくないと思います。

Nguyên liệu của món Cánh gà chiên nước mắm là cánh gà, nước mắm, bột năng, tỏi và gia vị. Cách làm món này cũng không khó lắm đâu.

まず、ニンニクを刻みます。ボウルにニンニクと洗った 手羽先を全て(すべて)入れて、味をつけて、混ぜます。

Đầu tiên là bằm nhỏ tỏi. Cho toàn bộ tỏi bằm và cách gà đã rửa sạch vào tô, nêm gia vị và trộn đều.

次に、その手羽先は片栗粉(かたくりこ))をまぶして、さっと揚げにします。ヌクマムと砂糖(さとう)を水で溶(と)いておきます。

Kế đến, nhúng cánh gà vào bột năng và chiên sơ. Nước mắm và đường thì hoà tan sẵn trong nước.

それから、フライパンに油を熱し、刻んだ(きざんだ)ニンニクを入れ香り(かおり)が出てきたら、さっと揚げ手羽先を入れて熱を通します。ヌクマムを入れて全部によく絡めて、手羽先が黄色くなるまで揚げます

Sau đó, làm nóng chảo dầu, phi tỏi băm cho tới khi có mùi thơm, rồi cho cánh gà chiên sơ lúc nãy vào chiên. Cho nước mắm vào cho thấm đều và chiên cho tới khi cánh gà có màu vàng ruộm .

最後に、お皿に盛り付け(もりつけ)て出来(でき)あがりです.

Cuối cùng bày ra đĩa và hoàn tất.

Cua Đồng.

 
 

テーブルにも足がある?Cái bàn cũng có “chân” nữa sao ta?

           

「テーブルの足」や「ビンの口」などのように、体のどこかを使った言い方がだくさんありますが、日本語だけではなく、他の国の言葉にも昔から同じような言い方がありました。たとえば、同じことを英語でも“a leg of the table”, “the mouth of the bottle”と言います。足(leg)や口(mouth)は、だれでもよく知っているので「テーブルの下の所にあって、」「ビンの上の所で、」と長く明しなくても、上のように言えばすぐに分かるのです。

Có rất nhiều cách nói sử dụng một phần nào đó của cơ thể như là “cái chân ghế” hay là “cái miệng chai”, nhưng không chỉ tiếng Nhật mà từ xa xưa, ngôn ngữ của các nước khác cũng có cách nói như vậy. Ví dụ như trong tiếng Anh người ta cũng nói “cái chân bàn”, “cái miệng chai”. Vì ai cũng biết chân (leg) và miệng (mouth), nên cho dẫu là không giải thích dài dòng như là “Có…ở nơi dưới cái bàn”, “Ở phía trên cái chai có…”, thì nếu nói như cách ở trên người ta cũng hiểu được rồi.

これと同じような言葉の使い方は、まだほかにもたくさんあります。「パンの耳」がパンのどこのことか分かるだろうし、「月が山の上にあたまを出した」という言い方もあまり難しくはないと思います。また、「会社の顔」や「社長の手足」が何をたとえていっているのかも,少し考えてみれば分かるのではないでしょうか。

Vẫn còn rất nhiều cách sử dụng ngôn ngữ giống như vậy lắm. Nào là nói “Tai của bánh mì” thì cũng biết được là chỗ nào của bánh mì, nào là “Mặt trăng nhô đầu lên trên đỉnh núi”, cũng không khó hiểu lắm nhỉ. Thêm nữa, nếu nói ví von “Gương mặt của công ty” hay là “Tay chân của sếp” thì nếu thử suy nghĩ chút xíu chẳng phải là sẽ hiểu được ngay sao?

だれでもよく知っているものを使って、ほかのものを説明するというやり方は、一つのとても便利な、そして役に立つ言葉の使い方のです。使われる言葉も、顔、あたま、手、足など体のどこかだけではなく、いろいろな言葉が使われます。「本の山」や「目は心の窓」、それから「火の海」などというのも、よく知られている言い方です。同じような言い方をいろいろな国の言葉で並べて見ると面白いと思います。

Cách nói sử dụng thứ mà mọi người đều biết rõ để giải thích cho một thứ khác là 1 cách rất tiện lợi, thêm vào đó đây là cách nói sử dụng ngôn ngữ hiệu quả. Những từ ngữ được sử dụng không chỉ là khuôn mặt, đầu, tay, chân hay đâu đó trên cơ thể mà còn những từ ngữ khác nữa. “Một núi sách”, “Mắt là cửa sổ tâm hồn”, hay là “Biển lửa” cũng là những cách nói hay được dùng. Tôi nghĩ là nếu như thử sắp xếp cách nói tương tự nhau của các ngôn ngữ khác nhau thì sẽ thú vị lắm đây.

Nguồn:

Bản tiếng Nhật: https://www.facebook.com/lopct3c

Dịch Nhật-Việt: Cua Đồng

 
 

たとえる。So sánh ví von. Comparing.

忙しくて忙しくて、だれでもいいから一人でも多くの人に手伝って(てつだって)もらいたい。そんなとき、日本語では「猫(ねこ)の手も借りたいほどだ」とたとえて言います。たとえ猫が手伝ってくれてもそれほど役に立つとは思えませんが、何か口に出して言いたいと思って、こう言うのです。

Khi quá bận rộn, người ta thường muốn được ai đó dù là một người hay nhiều người giúp đỡ. Những lúc như vậy, trong tiếng Nhật người ta thường nói ví là “(Bận)Đến mức muốn mượn tay của con mèo luôn!”. Dù ta không nghĩ là dẫu con mèo giúp đỡ thì sẽ có ích nhưng ta cứ muốn thốt ra điều gì đó thôi.

When we are extremely busy, we usually want to be helped by any person, one person or many people. At that time, in Japanese, they simile ” I want to borrow even a cat’s hand!”. Although we don’t think that the help of cat is useful, we just want to say something out loud.

また、「私の家には庭があります。でも、狭いですよ。」と言いたければ、これも「猫」を使って、「猫の額ほどの庭があります」と言います。猫にも額(ひたい)の広い猫と狭い(せまい)猫がいると思うので、日本語の分かる猫に開かれ(ひらかれ)たら、「失礼じゃないですか」と怒られ(おこられ)てしまいそうです。

Thêm nữa, nếu muốn nói là : “Nhà tôi có một khu vườn. Nhưng nó rất hẹp”, thì cũng dùng “con mèo” để nói “Tôi có khu vườn bằng cái trán con mèo thôi”. Vì tôi nghĩ là trong loài mèo thì cũng có con mèo trán rộng và con mèo trán hẹp, nên nếu bị con mèo hiểu được tiếng Nhật nghe thấy thì sẽ bị nổi giận vì cho rằng “Chẳng phải là thất lễ hay sao?” (Ý nói chê con mèo trán hẹp ý ^^)

In addition, if we want to tell ” I have a garden. However, it’s so small”, we can also use “cat” to say ” I have a garden which is as small as cat’s forehead”. I think that there are small forehead cats as well as large forehead cats, so if a cat which can understand Japanese hears what we are saying, it might be angry because ” Is it so disrespectful?” ? (It’s mean we despise that all cats have got small forehead ^^)

まだまだたくさん「猫」のお世話になる便利な言い方はあるのですが、「猫に小判」という言い方ほど面白いものはないでしょう。小判は昔のお金ですから、今なら「猫に一万円」と言えば、意味が分かるでしょう。高い辞書を持っていても、全然(ぜんぜん)使わずに本棚に並べておくだけの人に、「猫に小判(こばん)だね」と言うのです。

Nhờ “con mèo” mà còn nhiều cách nói tiện dụng nữa nhưng hẳn là không có cái nào thú vị như là câu “ném tiền vàng cho con mèo” . “Đồng tiền vàng” là loại tiền cổ, bây giờ nếu nói “Ném 10000 Yên cho con mèo” thì chắn hẳn cũng hiểu được ý nghĩa của nó. “Ném tiền vàng cho con mèo” dùng để nói tới người dù đã có từ điển thật đắt tiền nhưng không hề dùng tới, lại chỉ xếp trên kệ sách thôi đấy. (chỉ sự lãng phí)

There are many useful ways of speaking, using “Cat”, but maybe there’s no way as interesting as this sentence “coin to cat!”. “Koban” is ancient money, now if we say “10000 Yen to cat!”, we can also understand the meaning. “Coin to cat!” used for implying a person who has expensive dictionary but doesn’t use, just put it in the bookshelf only. (it means wasting money)

猫だけではなく、犬、牛、馬など、人と昔から生活をしてきた動物たちを使った言い方がたくさんあります。皆さんの国の言葉にも「猫の手」や「猫の額」、そして、「猫に小判」などと同じような言い方がありますか。あれば是非(ぜひ)それを紹介してください。

Không chỉ có con mèo mà còn có rất nhiều cách nói sử dụng những con vật đã gắn bó với con người từ xa xưa như chó, trâu, ngựa… Ở nước bạn có những cách nói như là “Tay của mèo”, “Trán con mèo” hay “Ném tiền cho mèo” không? Nếu có thì hãy giới thiệu cho mọi người nhé! ^^

Various ways of speaking using not only cats but also close-knit animal such as dogs, buffaloes, horses… Those ways: “Cat’s hand”, “Cat’s forehead” or “Coin to cat” are used in your countries? If so, please introduce to everyone 🙂

Nguồn:

Tiếng Nhật: http://www.hoctiengnhatonline.vn/luyen-nghe-tu-vung-nang-cao/651–bai1.html

Dịch: Cua Đồng

 
 

世界のじゃんけん- Trò chơi Oẳn tù tì trên khắp thế giới-Rock-paper-scissors of the world

     

 子供の遊びにはいろいろありますが、「鬼ごっこ」というのはだいたい世界中にある遊びのようです。その鬼はどうやって決めますか。日本では「じゃんけん」で決めるのが普通です。「じゃんけん、ぽん」と言って、グー、チョキ、パーのどれか1つを出して、負けた人が鬼になります。

Trò chơi của trẻ con thì rất nhiều nhưng trò “rượt bắt quỷ” thì dường như là trò có ở khắp thế giới. Làm thế nào đề quyết định (ai là) con quỷ đó? Ở Nhật thì thường quyết định bằng cách oản tù tì. Nói “Oẳn, tù, tì” và đưa ra một trong ba thứ búa, kéo, lá, người thua sẽ trở thành con quỷ.

There are varieties of children’s games but the game named “Chasing the devil” might be popular in all over the world. However, how to decide who the devil is? In Japan, it is often decided by (the game) “Rock-paper-scissors . Say “Rock-paper-scissors” and give out one of three things: hammer, scissors and leaf, the loser will become the devil.

  このじゃんけんも世界各地にあって、よく似ています。手を握る「グー」が「石」を指を二本出す「チョキ」が「はさみ」を、手を開く「パー」が「紙」を表すのが一番多いです。石とはさみと紙の勝負ですから、グーはチョキに勝って、チョキはパーに勝つことが分かります。紙は石を包むので、パーはグーに勝ちます。国によって、グーが金づちだったり、紙が布だったりします。

Trò oản tù tì này có ở khắp thế giới và cũng khá là giống nhau. Đa số là biểu hiện bằng “Guu” nắm tay lại nghĩa là “đá”, “Choki” thì đưa hai ngón tay ra để chỉ “cây kéo” và “Paa” là mở bàn tay ra, thể hiện là “giấy”. Vì giữa đá, kéo và giấy có sự thắng thua nên có thể hiểu là đá thắng kéo và kéo thì thắng giấy. Vì giấy có thể gói được đá nên “paa” sẽ thắng được “guu”. Tuỳ theo mỗi nước mà có khi “guu” là búa, và giấy là vải.

This game is popular and quite similar all over the world. Generally, “guu” with the fist means “stone”, “choki” with giving out two fingers means scissors and “paa” with the opened hand means paper. Because there is struggle among stone, scissors and paper so we can understand that stone wins scissors and scissors wins paper. Depending on countries, sometimes “guu” means hammer and paper is cloth.

   マレーシアのじゃんけんはちょっと違います。グーとパーの形は日本とそっくりですが、チョキは指先を全部合わせて前に出して、まるで鳥のくちばしのような形を作ります。そして、パーは紙ではなくて水を表します。ですから、石を鳥と水の勝負です。

Trò oản tù tì ở Malaysia thì khác một chút. Hình dạng của “guu” và “paa” thì hoàn toàn giống với Nhật, nhưng “choki” thì là những ngón tay chụm lại và đưa ra phía trước, làm thành hình giống như là mỏ chim vậy. Ngoài ra, “paa” thì không phải là giấy mà là nước. Vì thế, đây là cuộc đấu giữa đá, chim và nước.

In Malaysia, this game has few differences. The shapes of “guu” and “paa” are entirely similar to those in Japan but “choki” is like bird’s beak with gathering the fingertips and giving out. Moreover, “paa” isn’t paper but water. Thus, this is the struggle between stone, bird and water.

  

インドネシアにもじゃんけんのような遊びがあります。握りこぶしから親指だけを出すのが「象」で、人差し指だけをだすのが「人」、小指だけ出すのが「アリ」だそうです。象が人に勝って、人がアリに勝つのが分かりますが、どうしてアリが象に勝つのでしょうか。アリみたいに小さくても大きいものを倒すことができるところがおもしろいです。

Ở Indonesia thì cũng có trò chơi giống như oản tù tì. Hình như là từ cái nắm tay chỉ đưa ra ngón cái nhằm chỉ con voi, đưa ra ngón trỏ thì chỉ con người, còn đưa ngón út ra thì chỉ con kiến. Chuyện Voi thắng người, người thì thắng kiến thì có thể hiểu được, nhưng tại sao kiến lại thắng voi nhỉ?  Điều thú vị ở đây chính là một con vật nhỏ bé như kiến lại có thể thắng được một con vật to lớn như là voi đó.

There is a similar game in Indonesia. From the fist, bringing out only the thumb means an elephant, only the forefinger means people and only fingerend means an ant. We can understand why elephant wins people and people wins ant, but why can an ant win an elephant? The amazing thing is that a small animal like ant can win a large animal like elephant.

Nguồn:

Tiếng Nhật:http://mizushaumi89.blogspot.com/2011/04/blog-post_20.html

Dịch Nhật-Anh-Việt: Cua Đồng

 
 

狭くても大丈夫!Nhỏ hẹp cũng chẳng sao!

Đọc bài này 1 lần, 2 lần vẫn không thể hiểu hết ý, tức quá đem lên đây cho mọi người cùng xem thử :D. Mọi người góp ý giúp Cua với!!!!!

「畑のある新しい家。部屋の数は六畳に間、八畳とDK。一番近い駅までバスで十分の場所。バスの停留所(ていりゅうじょ)までは歩いて五分で、とても便利。田舎で生活したいと言う人には、ちょうどいい家。値段は四百五十万円。買いたい、見てみたいと思う人は、0120-00-3456のABCD社へお電話を」

“Một căn nhà mới có cả ruộng! Diện tích là 2 phòng x 6 jou + 8 jou + Phòng khách kết hợp với phòng bếp  (1畳(jou) =182cm x 91 cm) . Đây là nơi chỉ cần 10 phút đi xe buýt là đến nhà ga gần nhất. Đi bộ 5 phút là đến bến đỗ xe buýt, vô cùng tiện lợi. Đối với những người mà muốn sống tại vùng quê thì đây là căn nhà hoàn toàn phù hợp. Giá là 450 Yên. Quý khách muốn mua hay muốn xem thử thì hãy gọi đến công ty ABCD số 0120-00-3456.”

(Theo mình hiểu và chuyển đổi thì căn hộ này khoảng 33 m2 + 1 phòng khách kết hợp bếp. Huhu, không biết dịch đúng ko đây, cái này khó quá 😦

これだけたくさんのことが、3.4cmX1.3cmの新聞広告に書かれている。短い言葉でよく分かるようにたくさんのことを伝えることができるのは、新聞広告が一番のようだ。これは、日本語には漢字があるからできるのだと言う人もいるかもしれないが、英語や他の言葉の新聞を見ても、決まった言い方を使って同じように狭いところにたくさんのことが書かれていることが分かる。このような言葉の使い方を始めたのは、きっと、新聞広告がとても高いので、狭いところにできるだけたくさんのことを入れようとしたからなのだろう。

Nhiều thông tin như thế đấy nhưng lại được ghi trong một mẩu quảng cáo trên báo (có kích thước) chỉ có 3.4 cm x 1.3 cm. Việc truyền tải nhiều điều bằng những từ ngữ ngắn gọn để người khác hiểu được thì rất giống với quảng cáo trên báo chí.  Có lẽ, người ta cho rằng vì tiếng Nhật có Hán tự nên có thể làm được như thế nhưng dù xem báo tiếng Anh hay thứ tiếng khác thì cũng hiểu được là họ cũng dùng cách nói đã được định sẵn để ghi rất nhiều điều vào một chỗ rất nhỏ hẹp.
私たちが人に何か急いで知らせようとする時には、短く知らせようとする。話す人と聞く人、書く人と読む人が分かればいいのだから、意味が分かれば、いくら短くしても大丈夫だと考えるからである。昔は電報(でんぽう)を打(う)つ時に同じような言葉の使い方をしたし、今はメールを送るときなどにも同じようにできるだけ短く伝えようとして言葉を選ぶことが多い。

Khi chúng ta định thông báo gấp điều gì đó với mọi người thì cũng thông báo rất ngắn gọn. Vì người nói và người nghe, người viết và người đọc hiểu nhau là được rồi nên tôi nghĩ là nếu hiểu được ý nghĩa thì dù là ngắn gọn đến đâu cũng không sao. Ngày xưa, lúc “đánh điện báo” cũng dùng những từ ngữ như thế, bây giờ, những lúc như là gửi email thì cũng tương tự như vậy, việc chọn lựa từ ngữ để truyền đạt ngắn gọn cũng rất là phổ biến.

Nguồn

Tiếng Nhật: http://sunmine.tistory.com/m/post/view/id/121

Dịch: Cua Đồng

 
2 Comments

Posted by on April 27, 2013 in 勉強-Learning-Học hành

 

うしろのまきちゃん – Bạn Maki ở bàn dưới

(矢崎節夫
YAZAKI SETSUO)

ぼくの うちの となりに、女の子が ひっこして きた。
名まえは まきちゃん。
まきちゃんの おばさんが 言った。

「同じ クラスだから、よろしくね。」

まきちゃんの リボンが ゆれた。この 時からだ。まきちゃんが、ぼくの となりの まきちゃんに なったのは。

Cạnh nhà tôi có một cô bé vừa mới chuyển đến.
Tên bạn ấy là Maki.
Cô của bạn Maki nói với tôi rằng:

“Vì hai đứa học chung lớp nên hãy giúp đỡ Maki nhé.”
Cái nơ buộc tóc của bạn Maki đung đưa. Từ lúc này, Maki đã trở thành bạn Maki hàng xóm của tôi.

まきちゃんの せきは、ぼくの せきの うしろに なった。となりの まきちゃんが、うしろの まきちゃんに なった。
ぼくは うしろを 見ない。見ないけど、せなかが、ほっかり あったかいので、まきちゃんが いるのが わかる。

Chỗ ngồi của Maki thì ở đằng sau chỗ của tôi. Bạn Maki hàng xóm  lại trở thành bạn Maki ở bàn dưới.
Tôi không nhìn về phía sau. Tuy không nhìn nhưng vì tôi cảm thấy sau lưng  thật ấm áp, nên tôi biết là có bạn Maki ở đó.
でも、あれ?どう したのかな。きょうは、せなかが すうすうする。
ぼく、そうっと うしろを 見た。
あっ、まきちゃんが いない。
Thế mà,  ủa? Sao vậy ta? Hôm nay sau lưng cảm thấy sao lạnh lẽo quá.
Tôi lén nhìn về phía sau.
À, bạn Maki không có ở đây.

休み時間、ぼくは、みんなと 校てい (koutei) で サッカーも しないで、さっちゃんたちの そばを 行ったり きたり した。でも……、だれも まきちゃんの こと、はなして いなかった。
しんぱいじゃ ないのかな、みんな。
うちへ かえって、すぐに まきちゃんの うちを のぞいた。しいんと しずかだ。ぼくは なんども のぞいた。

Vào giờ nghỉ, tôi cũng không chơi đá banh cùng các bạn ở ngoài sân mà đi tới đi lui gần chỗ nhóm bạn Sacchan. Thế nhưng, chẳng có ai nói gì về bạn Maki cả.
-Mọi người chẳng lo lắng gì hết nhỉ…
Sau khi về nhà, tôi ngay lập tức ngó sang nhà bạn Maki.  Hoàn toàn tĩnh lặng. Tôi đã trông qua không biết bao nhiêu lần.


「まきちゃん、ねつを 出したんだって。学校が かわったばかりで、つかれたのね。たけしくんは、しんぱいで、おやつも いらないかな。」おかあさんが 言った。
おかあさんの いじわる。
でも、ほんとうに おやつ、ちっとも おいしく なかった。

“Bạn Maki bị sốt rồi đấy. Bạn vừa mới chuyển trường nên chắc là mệt lắm nhỉ. Bạn Takeshi lo lắng đến mức không cần đồ ăn vặt luôn nhỉ.” – Mẹ  bảo.
– Mẹ kỳ quá à L
Nhưng, đúng là đồ ăn vặt chẳng ngon tí nào.

おやつを たべてから、まきちゃんの 家の まえで、一人で ボールを けって あそんだ。公園に いけば 友だちが いるけど、やめた。
まきちゃんの うち、しいんと しずかだ。おばさんの こえも きこえない。ほかの うちには、みんな 電気が ついたのに、まきちゃんの うちは まっくらだ。

Sau khi ăn vặt xong, tôi chơi bóng một mình trước cửa nhà Maki. Nếu mà đi tới công viên thì sẽ có rất nhiều bạn nhưng tôi đã không đi.

Nhà của bạn Maki hoàn toàn im lặng. Cũng không nghe thấy tiếng cô của bạn ấy.  Mặc dù ở nhà tôi, mọi người đã bật đèn lên rồi, vậy mà nhà bạn Maki vẫn tối thui.

どう したのかな。まきちゃんの ねつ、ひどいのかな。ああ、早く 電気 つけ。
「あっ、電気が ついた!」
だいどころから、おばさんの こえも する。
ぼく、とっても おなかが すいちゃった。

– Sao vậy ta. Bạn Maki sốt nặng cao lằm phải không ta? Ôi, hãy mau bật đèn lên đi nào.
“A, đèn sáng rồi!”
Có tiếng cô của Maki ở phòng bếp

Tôi cũng đói bụng lắm rồi đây.

まきちゃんは、つぎの 日も 学校を 休んだ。ぼくの せなか、かせ ひいたみたいに すうすうする。
きゅうしょくの 時、はな子先生が 言った。
「たけしくん、きょう、まきちゃんちへ 手がみ、とどけて くれる?」
ぼくは こくんと うなずいた。
ほんとうは ぼく、まきちゃんと 一ども はなしたことが ないんだ。手がみなら わたせる。

Ngày tiếp theo thì Maki vẫn nghỉ học. Sau lưng lạnh lẽo như có gió thổi qua vậy.

Lúc nghỉ ăn trưa, cô giáo Hanako bảo tôi rằng:

“Hôm nay bạn Takeshi mang thư đến cho bạn Maki dùm cô được không nào?”
Tôi gật đầu ngay lập tức.
Thực ra tôi chưa từng nói chuyện với bạn Maki. Nếu là thư thì chỉ cần chuyển đến thôi.

ほうかご、ぼくは、てつぼうを しながら、はな子先生の 手がみを まった。いつもより、ずっと たくさん、てつぼうが まわれた。まわりすぎて、目が まわった。

「先生、おそいな、まだかな。」
ぼくは しょくいんしつを のぞいた。
はな子先生が あわてて 出て きた。

Sau giờ học, tôi vừa tập xà đơn vừa đợi thư của cô Hanako. Tôi tập xà đơn nhiều hơn mọi khi rất nhiều. Tập nhiều quá đến mức hoa cả mắt.

“Sao cô giáo muộn vậy nhỉ, vẫn chưa đến nhỉ?”
Tôi ngó vào phòng giáo viên.
Cô Hanako vội vã đi ra.


「ごめんね、たけしくん。いそぎの ようじが できて、まだ、お手がみ かいて いないの。あした、もって いって もらおうかな。」
その時……、ぼくは びっくりする ことを 言っちゃった。
「先生、ぼくが 先生の 手がみに なるよ。」
こんな こと、言う つもりじゃ なかったんだけど。

“Xin lỗi Takeshi nhé. Vì có việc gấp nên cô vẫn chưa viết thư. Ngày mai em  đến gửi thư giúp cô nhé !”
Lúc đó, bỗng nhiên tôi nói với cô rằng:

“Cô ơi, hãy để em là lá thư của cô nhé.”
Mặc dù đó không phải là lời tôi định nói.

 

かえり道、ぼくの 足、ちっとも まえに すすまなかった。
どうして、あんな こと、言っちゃったんだろう。まきちゃんと、一どだって はなした こと ないのに。はなそうと すると、むねが くるしく なるのに……
でも、おばさんに 言えば いいんだ。まきちゃんじゃ なくて。
ぼく、すこうし 元気が 出た。

Trên đường về, chân tôi chẳng chịu bước tới phía trước gì cả.

Tại sao tôi lại nói ra câu đó nhỉ. Chưa một lần nói chuyện với bạn Maki nữa mà. Hễ mà định nói thì ngực lại cảm thấy rất khó chịu.
– Nhưng nếu nói chuyện với cô của bạn ấy thì cũng được mà. Đâu phải nói với Maki đâu.

Thế là tôi mạnh mẽ tiến tới .
まきちゃんの 家 ブザーを おしたおばさんが 出て きた。ぼくは、おじぎを すると、あわてて 言った。
「こんにちは。ぼく、きょうは はな子先生の お手がみです。まきちゃん、ねつは まだ 下がり……
「ちょっと まって。たけしくん、先生の お手がみに なって きて くれたのね。ありがとう。それじゃ、中に 入って、まきちゃんに よんで あげて。」おばさんは にっこりして 言った。
そんな はすじゃ なかったのに。
Tôi nhấn chuông cửa nhà Maki. Cô của bạn ấy bước ra. Tôi chào rồi vội nói:

“Con chào cô. Hôm nay cháu là lá thư của cô giáo Hanako ạ. Bạn Maki vẫn chưa hạ sốt sao ạ…”

“Chờ một chút nào. Bé Takeshi đã trở thành thư của cô giáo gửi tới phải không nào. Cám ơn cháu nhé.  Vậy thì cháu hãy vào trong rồi đọc cho bạn Maki nghe nhé.” – Cô của bạn mỉm cười nói.
Không lý nào lại thế chứ…

まきちゃんは ふとんに ねてた。ぼくを 見ると、わらった。かおが すこし 赤かった。ぼくは すぐに 言った。
「まきちゃん、ねつは まだ さがりませんか。クラスの みんなが しんぱいして います。早く 元気に なって、いっしょに べんきょうしたり あそんだり しましょうね。うえむら はな子。」
まきちゃんは うれしそうに きいて いた。
それから、ぼくに 言った。
「こんどは、わたしの ごへんじに なって。」
ばんざあい。ぼくは、まきちゃんの 手がみにも なれるんだ。

Bạn Maki đang nằm ngủ trên nệm. Vừa nhìn thấy tôi, Maki liền cười. Mặt bạn hơi đỏ lên một chút. Tôi liền nói:

“Bé Maki vẫn chưa hạ sốt sao? Mọi người trong lớp đều lo lắng cho con đó. Hãy mau khỏe lại rồi cùng học cùng chơi với các bạn nhé. Cô Uemura Hanako.”
Bạn Maki nghe với vẻ rất hạnh phúc.
Rồi sau đó nói với tôi rằng:

“Lần này, bạn hãy trở thành lời hồi đáp của mình nhé.”
Thật tuyệt! Tôi cũng có thể trở thành thư của bạn Maki nữa.

 

つぎの 朝。ぼくは、いつもより 早く 学校に 行った。だって、きょう、ぼくは、まきちゃんの 手がみだもの。
みんなの まえで、まきちゃんの へんじを 言った。
「たけしくん、うれしそう。」
けんちゃんが 言った。ぼくは ほっぺたを ふくらませた。でも、ほんとうは とっても うれしかった。からだが ぽかぽかした。

Sáng hôm sau, tôi đến trường sớm hơn mọi khi. Bởi vì hôm nay tôi là thư của bạn Maki mà.
Tôi đứng trước mọi người và nói lời hồi đáp của bạn Maki.

“Bạn Takeshi có vẻ vui quá ta.” –

Bạn Ken nói . Tôi phồng má. Nhưng thực sự là tôi đã rất vui. Cả ngưởi có cảm giác thật ấm áp.

となりの まきちゃんの せきは、ぼくの せきの うしろ。いまは、もう 元気に なったから、ぼくの せなかは ほっかりして いる。でも、手がみで なく なった ぼくは、やっぱり まきちゃんと はなしが できない。
うしろの まきちゃんと、はなしが できると いいのにな。

Chỗ của bạn Maki hàng xóm là chỗ ở sau lưng tôi. Bây giờ vì bạn đã khỏe lại rồi nên sau lưng tôi cũng thấy ấm áp. Thế nhưng tôi – khi không còn là lá thư nữa, vẫn không thể  nói chuyện với bạn Maki được.

Ước gì có thể nói chuyện được với bạn Maki bàn dưới nhỉ…

 Nguồn:

Tiếng Nhật: từ sách truyện đọc.

Dịch: Cua Đồng

 

 

Xin chia sẻ với mọi người bản dịch hay hơn 🙂

Cô bé MAKI ngồi sau lưng tôi

Có một cô bé mới dọn tới cạnh nhà tôi, tên của cô bé là Maki. Mẹ của Maki đã nói rằng “Vì học cùng lớp nên hãy giúp đỡ cho Maki nha”. Cái nơ của Maki đong đưa. Từ đó Maki trở thành hàng xóm của tôi. Chỗ ngồi của Maki ở phía sau lưng của tôi. Maki- cô bé hàng xóm, nay trở thành bạn cùng lớp ngồi phía sau lưng tôi. Tôi không nhìn ra phía sau. Mặc dù không nhìn, nhưng tôi cảm thấylưng mình âm ấm, bởi vì tôi biết Maki đang ngồi ở sau lưng tôi.

“Ơ, sao vậy ta!?. Sao hôm nay mình cảm giác lưng mình lạnh lạnh?”. Tôi len lén nhìn lại phía sau, thì ngỡ ngàng vì không thấy Maki.

Giờ nghỉ giải lao, tôi  không cùng với mọi người chơi đá banh ở sân trường, mà chỉ đi tới đi lui bên cạnh tụi Sac. Nhưng không một ai nói gì về Maki. Tôi tự hỏi: “Mọi người không lo lắng cho Maki sao ta?”

Đi học về đến nhà, tôi lập tức hé nhìn qua nhà Maki. Im lặng như tờ. Tôi cứ len lén nhìn nhiều lần nhứ thế. Chợt, mẹ tôi nói: “Nghe nói Maki bị sốt. Có lẽ vì mới chuyển trường. Có phải Takeshi lo lắng hay không mà cả bữa ăn xế cũng không cần thiết vầy nè?!!!. Mẹ tôi chế giễu chọc tôi. Thiệt sự là bữa ăn xế không ngon lắm. Sau khi ăn bữa ăn xế xong thì tôi chơi đá banh một mình trước nhà Maki. Nếu mà đi ra công viên thì có nhiều bạn để chơi, nhưng tôi đã từ bỏ việc đó.

Nhà của Maki vẫn im phăng phắt, cũng không nghe thấy tiếng của mẹ Maki. Những nhà khác thì mọi người đã bật đèn lên hết rồi, nhưng nhà của Maki thì vẫn  tối om. Tôi tự hỏi: “Maki bị sao vậy ta?!. Cơn sốt của Maki có dữ dội lắm không ta?!”. Bỗng, tôi reo lên: “A, Đèn sáng lên rồi!”. Nghe được tiếng nói của mẹ Maki từ nhà bếp. Đến lúc này thì tôi đã rất đói bụng.

Ngày tiếp theo, Maki vẫn còn nghỉ học. Cái lưng của tôi lạnh giống như bị cảm. Vào giờ ăn trưa, cô Hanako đã nói: “Takeshi này, hôm nay em mang đến nhà Maki lá thư giúp cô được không?”. Ngay lập tức, tôi gật đầu cái rụp liền. Thực sự là tôi chưa từng một lần nói chuyện với Maki, nhưng nếu là lá thư thì tôi có thể trao được.

Sau giờ học, tôi vừa chơi xà đơn vừa chờ thư từ cô Hanako. Thanh xà đơn bị tôi quay nhiều hơn hẳn mọi khi. Vì quay quá nhiều nên mắt tôi hoa cả lên.

 

Tôi thầm nghĩ: “Sao cô trễ vậy ta?!. Giờ này mà vẫn chưa ra”. Tôi hé nhìn vô phòng giáo viên. Cô Hanako hối hả đi ra. “Xin lỗi em nha Takeshi. Vì có việc gấp nên cô vẫn chưa viết thư. Có lẽ ngày mai cô sẽ nhờ em mang thư nha?!”. Khi đó, tôi đã lỡ miệng nói cái điều mà chính bản thân tôi cũng ngạc nhiên: “Em sẽ trở thành lá thư cho cô nhé!?”. Những lời này, tôi không có ý định nói ra, vậy mà lỡ trớn nói luôn rồi!!!

Trên đường về nhà, chân tôi không thể tiến bước được một chút nào nữa. “Tại sao, mình lại nói điều như vậy chứ !”.  Tôi và Maki chưa bao giờ nói chuyện với nhau dù chỉ một lần. Mỗi lần cố gắng nói chuyện với Maki thì ngực cứ hồi hộp không thể nói. Tôi tự trấn an bản thân rằng: “Nhưng, nếu nói chuyện với mẹ Maki chắc không sao, vì không phải là Maki.”. Tôi đã lấy được chút khí thế.

Bấm chuông cửa nhà Maki. Ngay khi mẹ Maki bước ra, tôi cúi đầu chào rồi lập tức nói:  “Cháu chào cô. Hôm nay cháu là lá thư của cô Hanako. Bạn Maki, vẫn chưa hạ sốt…”. Mẹ của Maki  nói: “Cháu chờ một chút nhé. Cám ơn cháu Takeshi về việc làm lá thư  cho cô giáo.Vậy thì, mời cháu vào trong và đọc cho Maki nghe đi”. Mẹ của Maki đã mỉm cười nói như vậy. Tôi không ngờ sự việc lại ra thế.

Maki nằm trong chăn. Maki nhìn tôi rồi mỉm cười. Khuôn mặt hơi đỏ một tí. Tôi liền nói: “Maki, chưa hạ sốt à. Mọi người trong lớp lo lắng cho Maki lắm đó. Maki hãy sớm khỏe lên để cùng học, cùng chơi với mọi người nha. Uemura Hanako”. Maki có vẻ rất vui khi nghe tôi đọc thư. Sau đó, Maki nói với tôi rằng: “ Tiếp theo, bạn hãy là lá thư hồi âm của Maki cho cô và các bạn trong lớp nha?!”. Hoan hô, vì tôi được làm lá thư hồi âm của Maki.

Sáng hôm sau. Tôi đi học sớm hơn mọi khi. Vì hôm nay tôi sẽ làm lá thư hồi âm của Maki mà. Tôi đã đọc lời thư của Maki trước mặt mọi người. “Takeshi ơi, trông cậu có vẻ hạnh phúc quá!”- Ken đã nói như vậy. Lúc đó, tôi phồng hai cái má lên. Dẫu vậy, tôi thật sự  rất vui. Và tôi cảm thấy cơ thể mình cũng rất ấm áp.

Maki cô bé hàng xóm hôm nay lại ngồi phía sau tôi. Vì cô bé đã khỏe rồi nên tôi  cũng cảm thấy ấm áp. Nhưng, tôi bây giờ không còn là lá thư của Maki nữa, nên không biết lấy đề tài gì để nói chuyện với Maki nữa. Nếu như tôi có thể nói chuyện với Maki người ngồi phía sau lưng tôi thì hay biết mấy, thế mà…!!!

Nguồn: https://www.facebook.com/notes/%E5%8B%89%E5%BC%B7%E3%81%AB%E3%81%AA%E3%81%A3%E3%81%9F%E6%97%A5%E6%9C%AC%E8%AA%9E/b%C3%A0i-d%E1%BB%8Bch-truy%E1%BB%87n-%E3%81%86%E3%81%97%E3%82%8D%E3%81%AE%E3%81%BE%E3%81%8D%E3%81%A1%E3%82%83%E3%82%93/544552878938929

 
 

色のイメージ- Ấn tượng về màu sắc – Image of colors.

好きな色は人によって違います。好きな色でその人の性格 わが分かると言う人もいます。でも、明るい色より暗い色のほうが好きな人は性格も暗いでしょうか。色と性格が関係があるかどうかは分かりませんが、色とその色からイメージするものは関係があるかもしれません。

Màu sắc yêu thích thì khác nhau tuỳ vào mỗi người. Cũng có người nói rằng có thể hiểu được tính cách của người nào đó thông qua màu sắc yêu thích (của họ). Tuy nhiên, có phải là những người thích gam màu tối hơn gam màu sáng thì tính cách cũng trầm tĩnh? Dù không biết là có mối liên hệ giữa màu sắc và tính cách hay không, nhưng có lẽ là có mối liên quan giữa màu sắc và những ấn tượng gợi lên từ những màu sắc ấy.

Favorite colors are different depending on each person. Some people said that we can guest the characteristics of a person relying on their favorite colors. However, are those people who like dark colors than bright colors more thoughtful than others? Though we don’t know if there is a connection between colors and characteristics, nut there’s might be a relation between colors and impression evoked by those colors.

青と赤と黄色の中でどれが一番「危険」をイメージしますか。だいたいどこの国でも赤から「危険」を連想するのではないでしょうか。赤のイメージはもちろん「危険」だけではありません。日本の中華料理のお店ではカウンターやテーブルは赤です。もしそれが青だったら、きっと食欲がなくなるでしょう。でも、青には別のイメージがあります。夏の暑い かわ日はのどが渇きます。そんな時にあなたはどんな色のジュースが飲みたくなりますか。

Trong màu xanh, đỏ và vàng thì cái nào mang ý nghĩa “nguy hiểm” nhất? Chẳng phải là hầu hết ở các nước thì sự nguy hiểm đều liên tưởng từ màu đỏ sao? Tất nhiên là ấn tượng về màu đỏ thì không chỉ mang mỗi nghĩa “nguy hiểm”. Trong những tiệm ăn Trung Hoa tại Nhật thì quầy bán và bàn đều màu đỏ. Nếu như những thứ đó mà là màu xanh dương thì có lẽ chắc chắn là sẽ mất đi cảm giác thèm ăn. Tuy nhiên, màu xanh dương cũng có ấn tượng khác. Trong những ngày hè nắng hạn thì thường khát nước. Vào những lúc như vậy thì bạn muốn uống nước trái cây màu nào?

Among blue, red and yellow, which has the most “dangerous” meaning? In almost countries, there seems to be the danger can be evoked from red. The red is not only means “danger”. In Chinese restaurant in Japan, counters and tables are in red. If those things are in blue, the appetite might disappear. However, the blue have another meaning. In summer days, we usually feel thirsty. At that time, which color of juices do you want?

日本で赤と青と黄色のジュースを用意して、道を通る人に実験してみました。黄色のジュースも人気がありましたが、青ほどではありませんでした。赤は一番人気がありませんでした。きっと青を見ると涼しく感じるのではないでしょうか。

Ở Nhật người ta đã chuẩn bị sẵn nước ép màu đỏ, xanh dương, vàng và thử nghiệm đối với những người đi qua đường. Mặc dù nước ép màu vàng cũng được ưa chuộng nhưng không bằng màu xanh. Màu đỏ là màu không được ưa chuộng nhất. Có lẽ chắc là vì mỗi khi nhìn thấy màu xanh thì cảm thấy mát mẻ hơn.

In Japan, they prepared red, blue and yellow juices for testing people who were walking across the street. Although yellow juices were popular, but less than blue ones. Red ones are the least popular. Maybe because that whenever we see the blue, we always feel cool.

別の実験では同じ形で同じ大きさの箱を2つ持ってもらって、どちらの箱が重いか尋ねました。1つは白で、もう1つは黒でした。ほとんどの人が黒い箱のほうが重いと答えました。でも、本当は2つの箱は同じ重さでした。明るい色に比べて、暗い色はなんとなく重く感じるようです。

Trong một thử nghiệm khác, nhờ người ta cầm 2 cái hộp có cùng hình dạng và kích thước và hỏi xem hộp nào nặng hơn. Một cái hộp thì màu trắng, còn một cái thì màu đen. Hầu hết mọi người đều trả lời là màu đen nặng hơn màu trắng. Tuy nhiên, thực sự là hai cái hộp này đều có cùng độ nặng. Dường như khi so sánh với màu sáng thì không hiểu sao màu tối vẫn làm ta cảm thấy nặng hơn.

In other test, they told someone to hold two boxes which had the same shapes and sizes and asked them which one was heavier? One is white and one is black. Almost people answered that the black one was heavier than the other. Nevertheless, those two boxes had the same weight.  When compared with bright colors, somehow the dark colors can make us feel heavier.

Nguồn:

Tiếng Nhật: Sách tập đọc.

Dịch: Cua Đồng