RSS

Monthly Archives: June 2013

テーブルにも足がある?Cái bàn cũng có “chân” nữa sao ta?

           

「テーブルの足」や「ビンの口」などのように、体のどこかを使った言い方がだくさんありますが、日本語だけではなく、他の国の言葉にも昔から同じような言い方がありました。たとえば、同じことを英語でも“a leg of the table”, “the mouth of the bottle”と言います。足(leg)や口(mouth)は、だれでもよく知っているので「テーブルの下の所にあって、」「ビンの上の所で、」と長く明しなくても、上のように言えばすぐに分かるのです。

Có rất nhiều cách nói sử dụng một phần nào đó của cơ thể như là “cái chân ghế” hay là “cái miệng chai”, nhưng không chỉ tiếng Nhật mà từ xa xưa, ngôn ngữ của các nước khác cũng có cách nói như vậy. Ví dụ như trong tiếng Anh người ta cũng nói “cái chân bàn”, “cái miệng chai”. Vì ai cũng biết chân (leg) và miệng (mouth), nên cho dẫu là không giải thích dài dòng như là “Có…ở nơi dưới cái bàn”, “Ở phía trên cái chai có…”, thì nếu nói như cách ở trên người ta cũng hiểu được rồi.

これと同じような言葉の使い方は、まだほかにもたくさんあります。「パンの耳」がパンのどこのことか分かるだろうし、「月が山の上にあたまを出した」という言い方もあまり難しくはないと思います。また、「会社の顔」や「社長の手足」が何をたとえていっているのかも,少し考えてみれば分かるのではないでしょうか。

Vẫn còn rất nhiều cách sử dụng ngôn ngữ giống như vậy lắm. Nào là nói “Tai của bánh mì” thì cũng biết được là chỗ nào của bánh mì, nào là “Mặt trăng nhô đầu lên trên đỉnh núi”, cũng không khó hiểu lắm nhỉ. Thêm nữa, nếu nói ví von “Gương mặt của công ty” hay là “Tay chân của sếp” thì nếu thử suy nghĩ chút xíu chẳng phải là sẽ hiểu được ngay sao?

だれでもよく知っているものを使って、ほかのものを説明するというやり方は、一つのとても便利な、そして役に立つ言葉の使い方のです。使われる言葉も、顔、あたま、手、足など体のどこかだけではなく、いろいろな言葉が使われます。「本の山」や「目は心の窓」、それから「火の海」などというのも、よく知られている言い方です。同じような言い方をいろいろな国の言葉で並べて見ると面白いと思います。

Cách nói sử dụng thứ mà mọi người đều biết rõ để giải thích cho một thứ khác là 1 cách rất tiện lợi, thêm vào đó đây là cách nói sử dụng ngôn ngữ hiệu quả. Những từ ngữ được sử dụng không chỉ là khuôn mặt, đầu, tay, chân hay đâu đó trên cơ thể mà còn những từ ngữ khác nữa. “Một núi sách”, “Mắt là cửa sổ tâm hồn”, hay là “Biển lửa” cũng là những cách nói hay được dùng. Tôi nghĩ là nếu như thử sắp xếp cách nói tương tự nhau của các ngôn ngữ khác nhau thì sẽ thú vị lắm đây.

Nguồn:

Bản tiếng Nhật: https://www.facebook.com/lopct3c

Dịch Nhật-Việt: Cua Đồng

Advertisements
 
 

Sixteen Small Steps to Happiness. 16 bước để Hạnh phúc.

Bản tiếng Anh mình sưu tầm từ internet, mình thấy nó không quá khó thực hiện. Và bản thân cũng từng làm một vài điều nên thấy là tuy nó rất đơn giản, có vẻ chẳng có ý nghĩa gì, nhưng nó có thể làm mình suy nghĩ lạc quan hơn, cười nhiều hơn, thoải mái hơn. Vậy có phải là hạnh phúc hơn không nhỉ? 🙂

417786_304622309585875_527618574_n

1. push yourself to get up before the rest of the world – start with 7am, then 6am, then 5:30am. go to the nearest hill with a big coat and a scarf and watch the sun rise.

Cố gắng thức dậy trước cả thế giới- bắt đầu từ 7h sáng, sau đó là 6h, rồi 5h30. đi đến ngọn đồi gần nhất với một cái áo khoác dày, một chiếc khăn choàng và ngắm mặt trời mọc.

2. push yourself to fall asleep earlier – start with 11pm, then 10pm, then 9pm. wake up in the morning feeling re-energized and comfortable. 

Tự mình đi ngủ sớm hơn- bắt đầu từ 11h tối, rồi 10h, và 9h để sáng thức dậy thật tràn đầy năng lượng và thoải mái.

3. erase processed food from your diet. start with no lollies, chips, biscuits, then erase pasta, rice, cereal, then bread. use the rule that if a child couldn’t identify what was in it, you don’t eat it.

Loại bỏ mọi thực phẩm chế biến sẵn khỏi chế độ ăn uống của bạn. Bắt đầu với không kẹo, khoai tây chiên, bánh quy và sau đó là loại bỏ mì, gạo, ngũ cốc và bánh mì (cái này mình làm ko được đâu 😀 ). Dùng một quy tắc là nếu 1 đứa trẻ không biết có gì trong món đó thì bạn cũng ko ăn nó.

4. get into the habit of cooking yourself a beautiful breakfast. fry tomatoes and mushrooms in real butter and garlic, fry an egg, slice up a fresh avocado and squirt way too much lemon on it. sit and eat it and do nothing else. 

Làm quen với việc tự nấu cho mình một bữa sáng hoàn hảo. Xào cà chua và nấm trong bơ và tỏi, chiên 1 quả trứng, cắt 1 lát trái bơ và vắt nhiều chanh vào đó. ngồi ăn và không làm bất cứ điều gì khác.

5. stretch. start by reaching for the sky as hard as you can, then trying to touch your toes. roll your head. stretch your fingers. stretch everything.

Làm giãn cơ. Bắt đầu bằng việc vươn lên bầu trời hết mức có thể, sau đó cố gắng chạm vào ngón chân của bạn. Xoay đầu. Kéo giãn ngón tay. Kéo dãn tất cả mọi thứ.


396348_304622536252519_1566335466_n

6. buy a 1L water bottle. start with pushing yourself to drink the whole thing in a day, then try drinking it twice.

Mua 1 bình nước 1 lít. Bắt đầu với việc cố gắng uống hết trong 1 ngày, sau đó cố gắng uống gấp đôi như thế.

7. buy a beautiful diary and a beautiful black pen. write down everything you do, including dinner dates, appointments, assignments, coffees, what you need to do that day. 

Mua 1 quyển nhật ký đẹp và một cây viết mực đen thật đẹp. Viết tất cả mọi thứ bạn làm, gồm cả những cuộc hẹn ăn tối, cuộc họp, công việc, cà phê cà pháo, tất cả những việc cần làm ngày hôm đó.

8. strip your bed of your sheets and empty your underwear draw into the washing machine. put a massive scoop of scented fabric softener in there and wash.

Gỡ khan trải giường và dọn dẹp lại ngăn quần áo lót, cho chúng vào máy giặt. Cho vào một múc đầy nước xả vải thơm và giặt.

9. organise your room. fold all your clothes (and bag what you don’t want), clean your mirror, your laptop, vacuum the floor. light a beautiful candle.

Sắp xếp lại phòng ốc. Gấp quần áo ( và đóng gói những cái bạn không muốn), lau gương soi, laptop, hút bụi sàn nhà. Thắp thêm 1 ngọn nến thật đẹp.

10. have a luxurious shower with your favourite music playing. wash your hair, scrub your body, brush your teeth. lather your whole body in moisturiser, get familiar with the part between your toes, your inner thighs, the back of your neck.

Tắm thật sảng khoái trong lúc mở những bản nhạc yêu thích . Gội đầu, kì cọ cơ thể, đánh răng. Thoa kem dưỡng ẩm lên người, cả những kẽ ngón chân, đùi trong và sau gáy.

296871_235277073187066_1763916527_n

11. push yourself to go for a walk. take your headphones, go to the beach and walk. smile at strangers walking the other way and be surprised how many smile back. bring your dog and observe the dog’s behaviour. realise you can learn from your dog.

Đi dạo. Đeo tai nghe, đi ra biển và dạo bộ. Cười với mọi người đang đi chiều ngược lại và bạn sẽ ngạc nhiên khi biết có bao nhiêu nụ cười đáp lại. Mang theo cún cưng và quan sát hành động của nó. Bạn sẽ nhận ra là bạn cũng có thể học được từ cún cưng.

12. message old friends with personal jokes. reminisce.

Gửi những tin nhắn với những câu chuyện vui riêng tư. Hồi tưởng lại.

14. think long and hard about what interests you. crime? sex? boarding school? long-forgotten romance etiquette? find a book about it and read it. there is a book about literally everything. 

Nghĩ thật kỹ về điều gì làm bạn quan tâm. Tội phạm? Tình dục? Trường nội trú? Phép xã giao tình cảm đã lãng quên từ lâu? Tìm một quyển sách về nó và đọc. Có những quyển sách viết về chúng đúng từng chữ (theo nghĩa đen)

15. become the person you would ideally fall in love with. compliment people on their cute clothes. challenge yourself to not ridicule anyone for a whole day. then two. then a week. walk with a straight posture. look people in the eye. ask people about their story. talk to acquaintances so they become friends.

Hãy trở thành người lý tưởng mà bạn muốn yêu. Khen những bộ quần áo đẹp của mọi người. Thách thức bản thân không chế giễu bất kì ai trong suốt 1 ngày, 2 ngày, sau đó là 1 tuần. Đi bộ với tư thế thẳng. Nhìn vào mắt mọi người. Hỏi mọi người về câu chuyện của họ. Nói chuyện với những người quen để học trở thành những người bạn.

16. lie in the sunshine. daydream about the life you would lead. open your eyes. take small steps to make it happen for you.

Nằm dài trong ánh mặt trời. Mơ về cuộc sống bạn muốn có. Mở mắt ra và từng bước thực hiện nó.

Nguồn:

Tiếng Anh: http://emmaorwhatever.tumblr.com/post/50463252599/sixteen-small-steps-to-happiness

Dịch Anh-Việt: Cua Đồng

 
Leave a comment

Posted by on June 23, 2013 in 人生-Life-Cuộc sống

 

たとえる。So sánh ví von. Comparing.

忙しくて忙しくて、だれでもいいから一人でも多くの人に手伝って(てつだって)もらいたい。そんなとき、日本語では「猫(ねこ)の手も借りたいほどだ」とたとえて言います。たとえ猫が手伝ってくれてもそれほど役に立つとは思えませんが、何か口に出して言いたいと思って、こう言うのです。

Khi quá bận rộn, người ta thường muốn được ai đó dù là một người hay nhiều người giúp đỡ. Những lúc như vậy, trong tiếng Nhật người ta thường nói ví là “(Bận)Đến mức muốn mượn tay của con mèo luôn!”. Dù ta không nghĩ là dẫu con mèo giúp đỡ thì sẽ có ích nhưng ta cứ muốn thốt ra điều gì đó thôi.

When we are extremely busy, we usually want to be helped by any person, one person or many people. At that time, in Japanese, they simile ” I want to borrow even a cat’s hand!”. Although we don’t think that the help of cat is useful, we just want to say something out loud.

また、「私の家には庭があります。でも、狭いですよ。」と言いたければ、これも「猫」を使って、「猫の額ほどの庭があります」と言います。猫にも額(ひたい)の広い猫と狭い(せまい)猫がいると思うので、日本語の分かる猫に開かれ(ひらかれ)たら、「失礼じゃないですか」と怒られ(おこられ)てしまいそうです。

Thêm nữa, nếu muốn nói là : “Nhà tôi có một khu vườn. Nhưng nó rất hẹp”, thì cũng dùng “con mèo” để nói “Tôi có khu vườn bằng cái trán con mèo thôi”. Vì tôi nghĩ là trong loài mèo thì cũng có con mèo trán rộng và con mèo trán hẹp, nên nếu bị con mèo hiểu được tiếng Nhật nghe thấy thì sẽ bị nổi giận vì cho rằng “Chẳng phải là thất lễ hay sao?” (Ý nói chê con mèo trán hẹp ý ^^)

In addition, if we want to tell ” I have a garden. However, it’s so small”, we can also use “cat” to say ” I have a garden which is as small as cat’s forehead”. I think that there are small forehead cats as well as large forehead cats, so if a cat which can understand Japanese hears what we are saying, it might be angry because ” Is it so disrespectful?” ? (It’s mean we despise that all cats have got small forehead ^^)

まだまだたくさん「猫」のお世話になる便利な言い方はあるのですが、「猫に小判」という言い方ほど面白いものはないでしょう。小判は昔のお金ですから、今なら「猫に一万円」と言えば、意味が分かるでしょう。高い辞書を持っていても、全然(ぜんぜん)使わずに本棚に並べておくだけの人に、「猫に小判(こばん)だね」と言うのです。

Nhờ “con mèo” mà còn nhiều cách nói tiện dụng nữa nhưng hẳn là không có cái nào thú vị như là câu “ném tiền vàng cho con mèo” . “Đồng tiền vàng” là loại tiền cổ, bây giờ nếu nói “Ném 10000 Yên cho con mèo” thì chắn hẳn cũng hiểu được ý nghĩa của nó. “Ném tiền vàng cho con mèo” dùng để nói tới người dù đã có từ điển thật đắt tiền nhưng không hề dùng tới, lại chỉ xếp trên kệ sách thôi đấy. (chỉ sự lãng phí)

There are many useful ways of speaking, using “Cat”, but maybe there’s no way as interesting as this sentence “coin to cat!”. “Koban” is ancient money, now if we say “10000 Yen to cat!”, we can also understand the meaning. “Coin to cat!” used for implying a person who has expensive dictionary but doesn’t use, just put it in the bookshelf only. (it means wasting money)

猫だけではなく、犬、牛、馬など、人と昔から生活をしてきた動物たちを使った言い方がたくさんあります。皆さんの国の言葉にも「猫の手」や「猫の額」、そして、「猫に小判」などと同じような言い方がありますか。あれば是非(ぜひ)それを紹介してください。

Không chỉ có con mèo mà còn có rất nhiều cách nói sử dụng những con vật đã gắn bó với con người từ xa xưa như chó, trâu, ngựa… Ở nước bạn có những cách nói như là “Tay của mèo”, “Trán con mèo” hay “Ném tiền cho mèo” không? Nếu có thì hãy giới thiệu cho mọi người nhé! ^^

Various ways of speaking using not only cats but also close-knit animal such as dogs, buffaloes, horses… Those ways: “Cat’s hand”, “Cat’s forehead” or “Coin to cat” are used in your countries? If so, please introduce to everyone 🙂

Nguồn:

Tiếng Nhật: http://www.hoctiengnhatonline.vn/luyen-nghe-tu-vung-nang-cao/651–bai1.html

Dịch: Cua Đồng

 
 

Straw Millionaire-Địa chủ Rơm.

Hôm trước mình đã post chuyện Địa chủ Rơm, bản tóm tắt Nhật-Việt rồi (bạn có thể xem tại đây https://japengvietblog.wordpress.com/2013/06/10/%E3%82%8F%E3%82%89%E3%81%97%E3%81%B9%E9%95%B7%E8%80%85%E3%83%BCchang-dia-chu-rom/)

Hôm nay là bản Anh-Việt chi tiết hơn, thêm video (bằng tiếng Nhật) xem…cho vui hén 😉 Enjoy!!!!!!!!!!!!!!

Once upon a time there lived a young man named Yosaku. Not having a farm of his own, he wandered from village to village, helping other farmers and living off of the vegetables he received for his efforts. And with no home of his own, he slept in Buddhist temples, where he would pray to Kannon, the Goddess of Mercy. “Kannon, every day I work hard. I have no home of my own. Please give me a place to stay tonight. And let me find work again tomorrow.”

Ngày xửa ngày xưa, có một chàng trai trẻ tên là Yosaku. Vì không có ruộng của riêng mình nên anh ấy đã đi từ làng này sang làng khác để làm giúp những người nông dân khác và sống bằng chút hoa màu mà anh nhận được nhờ sự cố gắng của mình. Vì không có nhà nên anh thường ngủ trong những ngôi chùa thờ Phật, nơi mà anh ấy thường hay cầu khẩn với Phật Bà Quan Âm. ” Quan Âm Bồ Tát, mỗi ngày con đều làm việc chăm chỉ. Con vẫn không có một ngôi nhà. Hãy cho con một chỗ nghỉ lại tối nay. Và giúp con ngày mai lại tìm được việc làm.”

One night, Kannon appeared at Yosaku’s side, immersed in gold light, and said to him, “Wake up, Yosaku.” Kannon spoke to him: “Yosaku, you are an admirable man. However poor you may be you never complain and you help people for the smallest of pay. I’m going to provide you with a happy life. Tomorrow, the first thing you touch will reap great rewards for you.” With these words, Kannon disappeared.

Một đêm nọ, Phật Bà xuất hiện bên cạnh Yosaku, trong vầng hào quang sáng chói, nói với anh ấy rằng: “Mau dậy đi Yosaku.” Phật Bà nói: “Yosaku, con là một chàng trai đáng khâm phục. Dù nghèo khổ nhưng con không hề than vãn và còn giúp đỡ mọi người dù được trả thù lao rất ít. Ta sẽ cho con một cuộc sống hạnh phúc. Ngày mai, thứ đầu tiên con chạm vào sẽ là phần thưởng lớn cho con.” Nói xong những lời đó, Phật Bà biến mất.

The following day, as Yosaku headed out to work, he tripped on a stone on the roadside and fell down. “Ouch!” he exclaimed. When he stood up, he found himself holding a stalk of straw. “I wonder if this straw is what Kannon told me to hold on to. How is this going to make me happy?” Puzzled, he resumed walking.

Ngày hôm sau, vì Yosaku vội vã đi làm, nên anh ấy vấp phải hòn đá trên đường và ngã xuống. “Ối!”, anh ấy kêu lên. Khi đứng lên, anh thấy mình cầm trên tay một cọng rơm. “Không biết cọng rơm này có phải là thứ mà Phật Bà nói mình giữ lấy không nhỉ. Làm sao nó có thể làm mình hạnh phúc đây?”  Dù bối rối nhưng anh vẫn tiếp tục bước đi.

Suddenly, a horsefly flew by and began buzzing around his face. Yosaku caught it and tied it to the end of his straw. The bug tried to escape, but Yosaku held onto the other end of the stalk, so that the horsefly spun the straw around and around in circles, like an amusing toy. A wealthy boy who was passing by saw this and exclaimed to his elderly attendant, “I want one! I want one!” Yosaku gladly offered it to the boy. In return, the boy’s guardian gave him three oranges. “Wow, three oranges for a single piece of straw!” he thought happily, and again started down the road.

Bấ ngờ, một con ruồi trâu bay đến và cứ lượn xung quanh mặt anh. Yosaku bắt lấy nó và gắn nó lên đầu cọng rơm. Con ruồi cố thoát nhưng Yosaku đã nắm lấy đầu kia cọng rơm nên con ruồi cứ kéo cọng rơm quay vòng vòng, như một thứ đồ chơi thú vị. Một cậu bé con nhà giàu đi ngang qua, nhìn thấy nó và đòi người quản gia: “Tôi cũng muốn có! Tôi cũng muốn có!”. Yosaku tốt bụng đưa cho cậu bé. Đổi lại, người quản gia của cậu bé đưa cho anh 3 trái cam. “Woa, ba trái cam cho một cọng rơm!” , anh thấy thật vui và tiếp tục đi xuống phố.

Soon he came upon a distressed-looking woman. “Oh, it’s hot. I’m so thirsty that I think I’m going to faint! Please give me some water,” said the woman. “If these oranges would do, please have them,” said Yosaku, handing them to the woman. The woman ate them and soon regained her strength. “You’ve saved me. Please take this as a token of my thanks,” she said, handing Yosaku a bundle of woven silk cloth.
Không lâu sau, anh gặp một người phụ nữ trông rất khổ sở. “Ôi, nóng quá! Tôi khát muốn xỉu rồi! Làm ơn cho tôi xin một ít nước,” người phụ nữ nói. “Nếu những trái cam này có thể giúp cô thì xin hãy nhận lấy”, Yosaku nói và đưa cho người phụ nữ. Người phụ nữ ăn xong và trở nên khoẻ mạnh. “Anh đã cứu tôi. Hãy cầm lấy cái này xem như lời cảm ơn của tôi nhé!”, cô ấy nói và đưa cho Yosaku một cuộn vải lụa dệt.

“This expensive cloth must be a gift from Kannon,” Yosaku thought to himself as he continued on his way. Soon he came upon two samurai standing in the middle of the street. As he drew closer he saw that their horse, exhausted from the heat, was laying in the middle of the street. “What a useless horse!” exclaimed the samurai, who were at a loss as to what to do. Finally, Yosaku said to them, “Honorable samurai. If it would please you, how about exchanging your horse for this bundle of silk cloth?” The samurai, elated, said, “Great! Not only can we get rid of this horse, but you’ll give us a bundle of silk as well!” The samurai took the cloth, left the horse, and went on their way. Yosaku turned to the horse and said gently, “You’ve been in pain, haven’t you. Here, drink some water.” He gave the animal plenty of water, and the horse was soon on its feet again.

“Thứ vải quý giá này chắc hẳn là quà của Phật Bà Quan Âm rồi!” Yosaku vừa đi vừa nghĩ. Lát sau anh gặp hai vị võ sĩ đứng giữa đường. Khi đến gần, anh thấy ngựa của họ đã kiệt sức vì nóng và đang nằm giữa đường. “Thật là một con ngựa vô dụng!” người võ si không biết làm thế nào đành thốt lên. Cuối cùng, Yosaku nói với họ ” Thưa ngài, nếu có thể làm ngài hài lòng, ngài có muốn đổi con ngựa của ngài lấy cuộn vải lụa này không?” . Vị samurai vui mừng bảo, “Được chứ! Vừa không phải chịu đựng con ngựa này, vừa được một cuộn vải lụa!” Vị samurai lấy vài lụa, để lại con ngựa và bỏ đi. Yosaku quay lại với con ngựa và nói nhỏ nhẹ: ” Mày bị thương phải không? Uống chút nước đi nào!”. Anh ấy cho nó uống rất nhiều nước và chẳng mấy chốc nó đã đứng lên được.

Yosaku mounted the horse and rode to the edge of town, where he came upon a large house. People there were making travel preparations, piling luggage onto a cart. Yosaku spotted a man who looked like the owner of the house and, relating the details of his journey, asked him if he would like to buy the horse. The man listened to Yosaku’s story with great interest, and replied, “Sure, I’d be happy to buy your horse. But right now I have to go on a trip and don’t have any money to spare. Instead, why don’t I give you part of my rice paddy.” The owner also let Yosaku stay and take care of the house while he was away. Not only did Yosaku get his own paddy, but a place to live as well. This inspired him to work harder than ever.

Yosaku cưỡi ngựa và đi đến ven thị trấn, anh bắt gặp một ngôi nhà lớn. Mọi người đang chuẩn bị đi xa, đang chất hành lý lên xe ngựa. Yosaku thấy một người đàn ông trông như là ông chủ nhà nên anh ấy đã hỏi người đàn ông đó có muốn mua con ngựa hay không. Người đàn ông nghe câu chuyện của anh với vẻ thích thú bèn trả lời: “Hẳn rồi, ta rất vui khi mua con ngựa của anh. Nhưng giờ ta đang chuẩn bị đi và không có tiền để trả ngay lúc này. Thay vào đó, sao ta không đưa cho anh một phần ruộng lúa của ta nhỉ.” Vị chủ nhà còn cho Yasaku ở lại và chăm sóc ngôi nhà khi ông đi xa. Giờ thì không chỉ có ruộng mà của riêng mình mà Yosaku còn có chỗ để sống nữa. Điều này khiến anh làm việc chăm chỉ hơn trước nữa.


After some time the owner returned from his trip. The rice was growing abundantly and the house had been cleaned from wall to wall. Deeply impressed, he said, “Yosaku, you’re a fine young man. Why not marry my daughter and live in this house forever?” Yosaku happily accepted. He married the daughter and was blessed with adorable children. He continued to work hard and become very wealthy, and always helped those who were poor or in need. Because of his kindness, he came to be affectionately called “Warashibe Choja” (Lord Straw Stalk) by the villagers.
Một thời gian sau, vị chủ nhà trở về từ chuyến đi xa. Lúa đã mọc lên phủ khắp và căn nhà thì được dọn dẹp sạch sẽ mọi ngõ ngách. Vô cùng ấn tượng, ông nói, “Yosaku, anh là một người tốt. Hãy cưới con gái ta và sống ở đây mãi mãi nhé!?”. Yosaku vui vẻ nhận lời. Anh cưới cô con gái và may mắn có được những đứa trẻ đáng yêu. Anh tiếp tục chăm chỉ làm lụng và trở nên giàu có, lại luôn luôn giúp đỡ người nghèo. Vì sự tốt bụng đó mà anh được dân làng trìu mến gọi là “Địa chủ Rơm”.

Nguồn:

Tiếng Anh: http://web-japan.org/kidsweb/folk/warashibe/warashibe01.html

Dịch: Cua Đồng

 

わらしべ長者ーĐịa chủ Rơm.

Hơn một tháng rồi bận rộn nhiều thứ nên giờ mới có bài mới cho blog :). Đây là câu chuyện về chàng “Địa chủ rơm”, theo mình tìm hiểu thì nó có khá nhiều phiên bản, có chút khác biệt trong tình tiết nhưng cốt truyện thì cũng như nhau cả. Đây là một bản tóm tắt bằng tiếng Nhật mình mới dịch xong. Bữa sau mình sẽ bổ sung 1 bản tiếng Anh đầy đủ luôn nhé 🙂

むかし、むかし、ある所に正直者ですが、運の悪い男が住んでいました。朝から晩まで、働けど働けど、貧乏で運がありませんでした。 

ある日のことです。男は、最後の手段として、飲まず食わずで、観音さまにお祈りしました。
すると、夕方暗くなった時、観音さんが目の前に現われ、こう言いました。
「あなたは、このお寺を出るとき、転がって何かをつかみます。それを持って西に行きなさい。」
Ngày xửa ngày xưa, ở một nơi nọ có một chàng trai thật thà nhưng kém may mắn. Dẫu làm việc từ sáng tới tối mịt, nhưng vẫn cứ sống bất hạnh trong nỗi nghèo khó.

Một ngày nọ, không còn cách nào khác hơn, chàng trai đã không ăn không uống, đi đến cầu khẩn Phật Bà Quan Âm.

Ngay lập tức, khi trời trở nên tối đi, Phật Bà Quan Âm hiện ra trước mắt và nói thế này:

“Khi bước ra khỏi ngôi chùa này, con sẽ té ngã và bắt được một cái gì đó. Hãy cầm nó và đi về phía Tây”
確かに、男は、お寺を出ようとしたとき、転がって、何かをつかみました。それは、一本のわらでした。何の役にもたたないと思いましたが、男は、わらを持って西に歩いて行きました。
あぶが飛んできました。男はあぶをつかまえると、わらの先に縛りつけ、また歩いて行きました。

Và thế là khi chàng trai vừa ra khỏi chùa thì bị ngã, rồi bắt được cái gì đó. Đó là một cọng rơm. Mặc dù anh nghĩ là nó chẳng có ích lợi gì cả, nhưng anh vẫn giữ nó và đi về hướng Tây.

Có một con ruồi bay đến. Chàn trai tóm lấy và gắn vào đầu cọng rơm và tiếp tục đi.


町にやってくると、赤ん坊が、わらの先のあぶを見て、泣き止みました。
うれしそうな赤ん坊を見て、男は、わらを赤ん坊にやりました。代わりに、赤ん坊のお母さんから、男はミカンを三つもらいました

Khi chàng trai ghé qua thị trấn,  có một em bé nhìn thấy con ruồi ở trên đầu cọng rơm và nín khóc ngay.

Nhìn thấy em bé có khuôn mặt rạng rỡ, chàng đã tặng cọng rơm ấy cho bé. Đổi lại, chàng trai nhận được  3 trái quýt từ mẹ của em bé.


ミカンを三つ持って、男はさらに西に歩いて行きました。しばらく行くと、娘さんが道端で苦しんでいるのを目にしました。水を欲しがっていたので、男はミカンをあげました。じきに、娘さんはよくなりました。代わりに、男は、きれいな絹の布をもらいました。
絹の布を持って、男はさらに西に歩いて行きました。しばらく行くと、サムライと元気のない馬に出会いました。美しい布を見て、サムライは、馬と交換するよう言うと、布を持って東の方へ行ってしまいました。男が、夜通し馬の面倒を見てやると、馬は、朝には元気になっていました。

Cầm 3 trái quýt, chàng trai tiếp tục đi về phía Tây. Đi được một lát thì anh thấy một người phụ nữ đang khổ sở bên vệ đường. Vì cô ấy đang rất khát nước nên chàng trai đã tặng cho 3 trái quýt. Chẳng mấy chốc người phụ nữ trở nên khoẻ hơn. Nhưng đổi lại, chàng lại nhận được một xấp vải lụa rất  đẹp.

Cầm xấp vải lụa, chàng lại lên đường đi về phía Tây. Vừa đi được một quãng thì gặp một người võ sĩ cùng với một con ngựa không được khoẻ mạnh. Vừa nhìn thấy xấp vải lụa đẹp, người võ sĩ đã nói muốn đổi ngựa để lấy vải, và rồi cầm xấp vải đi về phía Đông. Chàng trai đã chăm sóc con ngựa suốt đêm và đến sáng hôm sau thì nó trở nên khoẻ mạnh.

 


馬を連れて、男はさらに西に歩いて行きました。城下町にやってくると、長者さんが、馬を見てたいそう気に入りました。男は長者さんの家に招かれました。娘さんが、長者さんと男に、お茶を持ってきました。
何と、男がミカンをあげた娘さんでした。長者さんは、不思議な縁と男のやさしさに心打たれ、娘を男に嫁がせることにしました。
男は、観音さまに言われたとおり、わら一本で長者になりました。村人からは、「わらしべ長者」と呼ばれました。

Chàng trai cưỡi ngựa và lại đi về phía Tây. Vừa đến kinh thành thì có một vị điền chủ nhìn thấy con ngựa và ra chiều ưng ý. Chàng trai được mời đến nhà của điền chủ. Con gái của ông ấy cũng đem trà đến cho cha và chàng trai.

Không biết như thế nào mà đó chính là người phụ nữ chàng đã tặng 3 trái quýt. Vị điền chủ thấy đây là duyên số kì lạ, lại cảm động vì sự tốt bụng của chàng trai nên đã quyết định gả con gái cho chàng.

Đúng như lời Phật Bà Quan Âm đã phán, chàng trai đã trở thành điền chủ chỉ nhờ vào một cọng rơm. Từ đó chàng được dân làng gọi là “Điền chủ rơm”.

Nguồn:

Tiếng Nhật: http://www.geocities.co.jp/HeartLand-Gaien/7211/Japanese/warashibej.html

Dịch Nhật Việt : Cua Đồng