RSS

身振りと言語-Cử chỉ và ngôn ngữ-Gesture and languages.

16 Apr

「目は口ほどにものを言う」 ということわざがある。 これは、感情 のこもった 目つき が、口で言葉を伝える のと同じ程度の働きをする という意味である。 このほかにも 、身体 の部分を表す 言葉を含む 言い方には、「耳を 傾ける 」「胸を張る 」など、心の動き や状態 を表す ものが少なくない 。 このような表現 は、意志 や感情 を伝達 する時に、身振り が助けたり、支えたり していることを示している 。 

Có câu rằng: “Mắt thì cũng nói được như miệng vậy.” Điều này có nghĩa là một ánh nhìn có chứa cảm xúc thì có thể làm được cái việc giống như là truyền đạt ngôn ngữ bằng miệng. Ngoài ra, trong cái cách nói mà bao gồm cả những từ ngữ biểu thị các bộ phận của cơ thể thì những câu như  “lắng tai nghe”, “căng ngực ra” và những thứ mà có thể diễn đạt hoạt động của trái tim và trạng thái thì cũng không phải là ít. Những biểu hiện như thế này cho thấy, cử chỉ là thứ giúp đỡ rất nhiều khi chúng ta truyền đạt ý chí và tình cảm.
People say that “The eyes are as eloquent as the tongue”. It means the soulful eyes can do the same work as expressing words with mouth. Moreover, there are a variety of ways to express the feelings or the condition of mind by words which include a part of body, such as “bend an ear” or  “stick a chest out” . Those expressions are indicating the fact that your gesture will support you when you convey your will or feelings.
我々 の生活の中でよく使われるのは、顔や手を使う動作 であろう 。 首を縦の方向 に動かせば 、相手の言うことを認めた、即ち 賛成 したことになる。 横に振れば 、反対 だということを示す。 人差し指 を唇 のところに当てる のは、静かにしろ 、しゃべる な という合図 である。 恥ずかしい時には、手で頭をかく こともある。 仮に 、これらの動作 を全く 借りずに話をしようとしたら 、うまく いかない だろう。
Có lẽ thường được dùng trong sinh hoạt của chúng ta là những động tác sử dụng tay và mặt. Nếu chuyển động cổ theo hướng thẳng đứng là đã xác nhận, có nghĩa là tán thành điều mà đối tượng nói. Nếu lắc cổ theo chiều ngang thì biểu thị sự phản đối. Đặt ngón tay trỏ lên môi là ra dấu đừng nói chuyện, hãy giữ yên lặng. Khi mắc cỡ thì cũng có chuyện đưa tay lên gãi đầu. Giả sử không dùng toàn bộ những động tác này mà chỉ nói chuyện thì chắc là cũng không trôi chảy đâu nhỉ.
The gesture that is often used in our life usually using hand and head. When you moved your neck lengthwise, it means you admitted what the other is saying, or you agreed with him. When you moved your neck broadwise, it means you protested him. Putting the forefinger on lips is the signal of being quiet or don’t talk. When someone is embarrassed, sometimes he scratch their head with hands. If you don’t use gesture, your communication can’t go smoothly.
これらの動作 がそれぞれの意味を表す のは、長い間の習慣によってできた 共通の 約束ごと だからである。 だから、文化の異なる民族 の間では、同じ身振り が別の 意味を持つことも珍しくない 。 日本では、手であご のあたり をなでる のは得意な 様子を表す ことがある。 ところが、イタリアでは、話が長くて、退屈 だという意味になる。 これは、退屈 な話を聞いていると、ひげが伸びる という伝説 があるためである。
Cái việc mà mỗi động tác biểu thị một ý nghĩa cũng là do quy ước của cộng đồng được tạo ra bởi thói quen sau một thời gian dài. Vì vậy mà giữa các dân tộc có nền văn hóa khác nhau, thì cái việc mà cùng một cử chỉ nhưng lại mang ý nghĩa khác biệt không phải là hiếm. Ở Nhật, dùng tay xoa cằm thì thể hiện thái độ đắc ý. Nhưng ở Ý thì lại mang nghĩa là buồn tẻ vì câu chuyện quá dài dòng. Vì vậy mà có truyền thuyết cho rằng hễ nghe một câu chuyện buồn chán thì râu sẽ mọc dài ra.^^There’s a legend that if we hear a boring story, the beard will grow fast.
このように、身振り が決まった 型 を持ち、文化的な 習慣になったものの代表に、あいさつがある。 日本では、腰を 曲げて 頭を下げる、いわゆる 「おじぎ」が普通のあいさつである。 あいさつの時に、相手との間に隔たり を置く のが日本や中国では礼儀 だとされてきた 。
Theo cách này, với những cử chỉ đã được quyết định, thì sự chào hỏi đại diện cho điều đã trở thành thói quen mang tính văn hóa. Ở Nhật, việc cúi chào bằng cách gập hông, cúi đầu là cách chào thông thường. Ở Nhật và Trung Quốc, khi chào hỏi, việc giữ một khoảng cách với đối tượng được cho là phép lịch sự.
それに対して 、欧米 では、握手 をしたり、抱き合ったり 、体に触れる ことが親愛の情 を示す動作 だと考えられている 。 アラブ人 は、互いに額 と鼻をつけ、目を見合わせる ようなあいさつをする。 これは、欧米型 の動作 と言えるであろう 。Trái lại, ở Âu Mỹ, những động tác mà thể hiện tình thân ái bằng cách bắt tay, ôm, tiếp xúc thân thể lại rất phổ biến.  Người Ả Rập thì chào hỏi bằng cách mắt nhìn nhau, trán và mũi chạm nhau. Vì thế có thể nói đây là động tác kiểu Âu Mỹ chăng?

このように、人々の何気ない 表情や動作 も、実は民族 固有 の文化や伝統 に深く根差している のである。 どんなに 外国の言語 や文化を学んでも 、その人の民族性 は、身振り の中に色濃く 残っている と言えよう 。

Tương tự như vậy, những động tác và biểu hiện bình thường của chúng ta thật ra cũng có gốc rễ sâu xa từ văn hóa và truyền thống vốn có của dân tộc. Có thể nói rằng dù học văn hoá và ngoại ngữ đến thế nào đi nữa thì tính dân tộc vẫn luôn in đậm trong mỗi con người.

Nguồn:

Tiếng Nhật: http://jplang.tufs.ac.jp/int2/yo/13/1.html

Dịch: Cua Đồng

Advertisements
 
 

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s

 
%d bloggers like this: