RSS

Monthly Archives: March 2013

桜の花ーCherry Blossoms- Hoa anh đào.

 

桜は日本の代表的な 花である。 毎年春になると、日本の各地で美しい花を咲かせ 、人々を楽しませる.
Sakura is a typical flower of Japan. Every year when spring comes, in all places of Japan, the beautiful flowers bloom and make people feel very comfortable.
Hoa anh đào là loài hoa đặc trưng của Nhật Bản. Mỗi năm khi mùa xuân đến, ở khắp mọi nơi trên Nhật Bản, những bông hoa đẹp nở rộ làm cho mọi người cảm thấy vui vẻ thoải mái.
桜にはどのぐらい種類があるのだろうか。 桜は、昔から日本の野 や山に自然に 生えていたが、種類はあまり多くなかった。 しかし、人々の手によって いろいろな種類が作られ、今では 、三百種 ぐらいになっている。 
How many types of cherry blossom trees? In the past, cherry blossoms grew naturally in the mountains and plains of Japan, but not many types. Then, thanks to the human’s hands, many types of cherry blossoms have been created, and now, reach to nearly 300 types.
Hoa anh đào có khoảng bao nhiêu loại?  Ngày  xưa, ở các vùng núi và miền đồng bằng Nhật Bản, cây anh đào mọc tự nhiên nhưng không có nhiều loại lắm. Và rồi, nhờ vào bàn tay con người mà nhiều loại hoa đã được tạo ra, bây giờ thì, đã có khoảng 300 loại.
桜の花は、色がだいたい同じで、ほとんど白かピンクである。 ピンクには薄い のも、濃い のもある。 花びら はふつう五枚あって、輪 のように丸く並んでいる。 
The colors of cherry blossoms are quite similar, mostly in white or pink. There’re light pink or deep pink blossoms. Flowers usually have five petals and arrange as a circle.
Màu sắc của hoa anh đào tương đối giống nhau, hầu hết là màu trắng hoặc hồng. Màu hồng nhạt cũng có, màu hồng đậm cũng có. Cánh hoa thường có năm cánh xếp lại như một vòng tròn.
桜の花は暖かくなってから咲くが、花の開く日は地方によって違う 。 日本は、南北に 細長い 国なので、南の端と北の端とでは緯度 の差 が20度もあり、気候 も違う。 北に行けば行くほど 桜の咲く時期 が遅くなるのである.
Cherry blossoms bloom when the weather becomes warm, but the time of blooming is different depends on regions. Because Japan is long and narrow from north to south, so in north pole and south pole, the latitudes are 20 degree different and the climate is also different. The more upward to the North, the late cherry blossoms bloom.
Hoa anh đào nở khi thời tiết trở nên ấm áp, nhưng ngày hoa nở thì khác nhau tùy mỗi vùng. Nhật Bản vì là đất nước dài và hẹp từ Bắc đến Nam, nên cực bắc và cực nam có vĩ độ chênh nhau 20 độ, khí hậu cũng khác nhau. Càng về phía Bắc thì thời gian hoa anh đào nở càng trễ.
一番初めに桜が咲くのは、やはり 南の端の沖縄 で、一月中旬 である。 そして、三月の下旬 に九州南部 で咲く。 東京で咲き始めるのは四月初旬 ごろで、ちょうど 入学式 や入社式 の時期 に当たる 。 北海道で桜が咲き、春らしい 季節を迎えるのは、五月になってからである 。
The first cherry blossoms bloom in the Southern of Okinawa, in the middle of January. And at the end of March, the flowers bloom in the Southern of Kyushu. In Tokyo, the blooming time is in early of April, as the same time with the begining of a school year and companies’s recruitment. Cherry blossom in Hokkaido likely to welcome the spring because it bloom timely in May.
Hoa anh đào nở sớm nhất là ở vùng cực Nam của đảo Okinawa, vào khoảng giữa tháng giêng. Và vào cuối tháng ba thì hoa nở ở vùng  phía nam của Kyushu. Thời gian hoa bắt đầu nở ở Tokyo là vào đầu tháng tư,  đúng vào thời gian nhập học và thời gian các công ty nhận người mới. Hoa anh đào nở ở Hokkaido như để chào đón mùa xuân vì vào đúng tháng năm.
桜の木は学校、公園、お寺、神社などに植えてある 。 たくさんの桜が一度に 咲くと、東京の上野公園 や新宿御苑 などはピンクの花でいっぱいになる 。 しかし、花は、開いてからたった 四日か、五日で散って しまう。 人々は、美しい花が散らないうちに 、桜の木の下に集まり、お酒を飲んだり、ごちそう を食べたり、歌を歌ったりして楽しむ。 これは花見 という行事で、三月から五月にかけて各地で行われる。 
Cherry trees are often planted in schools, parks, temples, shrines, etc. When a lot of flowers bloom at the same time, places such as Ueno Park in Tokyo and Shinjuku Garden are full of pink flowers. However, since it bloomed, the flowers will wither after only four days. People take advantges of the beautiful flowers to gather under a tree, eat, sing and play. This is an occasion called “Enjoy the flowers”, which is held from March to May in many places.
Cây hoa anh đào được trồng ở trường học, công viên, đền, miếu,.. Và khi rất nhiều hoa anh đào nở cùng một lúc, thì lúc đó những nơi như Công viên Ueno ở Tokyo và vườn ngự uyển Shinjuku sẽ tràn ngập hoa màu hồng. Tuy nhiên, kể từ lúc nở thì những bông hoa chỉ sau bốn năm ngày đã rụng. Mọi người tranh thủ trong lúc hoa chưa tàn thường  tụ tập dưới gốc cây , ăn uống, hát hò, vui chơi. Đây là dịp gọi là Ngắm hoa, được tổ chức khắp mọi miền khoảng từ tháng ba đến tháng năm.

 

花見 は昔から行われてきた行事だが、農家にとって はもっと重要な 意味もあった。 農民 たちは、満開 の桜を見て、秋には米がたくさん実り 、食べ物には不自由しないと信じた 。 そして、それを喜び、満開 の花の下でおなかいっぱい飲んだり、食べたりして祝った 。

“Enjoy the flowers” is an event which has been held since bygone days, but for farmers, it also has an important meaning. Farmers who see the cherry blossoms bloom, they believe that the fall harvest will yield more than usual, and they won’t be starveling. After that, they enjoy and sit under a tree with blooming flowers, praise and eat and drink well.

Việc ngắm hoa là một sự kiện đã được tổ chức từ thời xa xưa, nhưng và đối với người nông dân thì còn có ý nghĩa rất quan trọng . Người nông dân khi nhìn hoa anh đào nở rộ, họ tin rằng vụ thu hoạch lúa mùa thu sẽ bội thu, thực phẩm sẽ không bị thiếu. Và họ vui mừng, ngồi dưới gốc cây có hoa nở rộ mà chúc tụng và ăn uống no say.

桜の花は、見て楽しむだけではない。 人々は、桜の花びら から作った桜茶 を飲み、桜の葉を巻いた 桜もち を食べたりして、春という季節を感じる 。 桜の花は、日本人にとって 春を象徴する 花なのである。
Cherry blossoms are not just looked for fun. People also drink tea made ​​from the petals or eat sticky cake wrapped up by leaves and enjoy the taste of spring. For the Japanese residents, cherry blossom is typical flower which symbolizes the spring.
Hoa anh đào không chỉ để ngắm cho vui. Người ta còn uống trà làm từ cánh hoa hoặc ăn bánh nếp gói từ lá hoa anh đào và cảm nhận hương vị của mùa xuân. Hoa anh đào đối với người Nhật là loài hoa tượng trưng cho mùa xuân.

Nguồn:

Tiếng Nhật: http://jplang.tufs.ac.jp/int2/yo/5/1.html

Dịch: Cua Đồng

TỪ MỚI TRONG BÀI:

代表的 (だいひょうてき): đại diện /represent
咲かせる (さかせる): làm cho nở hoa / make flower bloom
人々を楽しませる (ほおびとをたのしませる): làm cho mọi người vui / make people feel happy
野 (の): cánh đồng / paddy field
自然 (しぜん): tự nhiên / naturally
~によって:  bởi ~ / by~
三百種 (さんびゃくしゅ): 300 lọai / 300 types
薄い (うすい): nhạt / light
濃い (こい): đậm/ deep
花びら (はなびら): cánh hoa / petal
輪 (わ): vòng tròn / circle
(南北)(なんぼく): Nam đến Bắc / south to north
細長い (ほそながい) dài và hẹp /long and narrow
緯度 (iいど): vĩ độ /platitude
差 (さ): sự khác biệt /difference
気候 (きこう): khí hậu / weather
~ば~ほど: càng~ càng~ / the more~he more~
やはり :Chắc / surely
沖縄 (おきなわ) Okynawa
中旬 : (ちゅうじゅん) trung tuần / mid-month
下旬 (げじゅん) hạ tuần/ last ten days of a month
初旬 (しょじゅん): thượng tuần / first ten days of a month
入学式 (にゅうがくしき): lễ khai giảng / The start of a new school year
入社式 (にゅしゃしき): lễ vào công ty / The start of companies’s recruitment
ちょうど~に当たる (ちょうど~にあたる): đúng vào / timely
上野公園 (うえのこうえん): Công viên Ueno / Ueno park
新宿御苑 (しんじゅくぎょえん)Công viên quốc gia Shinjuku Gyoen/ Shinjuku Gyoen National Garden:
散る ( ちる): rơi rụng/ fall,tumble
~うちに : trong lúc / while
ごちそう : ăn tiệc/ have a party
重要 (じゅうよう): quan trọng/ important
農民 (のうみん): nông dân/ farmer
満開 (まんかい): nở rộ/ flourish
実り (みのり): kết quả, chín/ ripe,bear fruit
祝う (いわう): chúc, cầu nguyện / pray
巻く (まく): gói/ wrap up
感じる (かんじる): cảm thấy/ feel
象徴する(しょうちょうする): tượng trưng / symbolize

 
 

日本人と洋服- Japanese people and Clothes- Người Nhật và Âu phục.

第二次世界大戦 後 、日本人の生活は大きく変化 した。 洋服を着るようになったのもその一つの例である。
Sau đại thế chiến thứ hai, cuộc sống của người Nhật đã thay đổi rất nhiều. Việc mặc âu phục là một ví dụ trong số đó.

After the Second World War, Japanese’s life had changed a lot. Wearing western style clothes is an example of that.

日本人が洋服を着始めたのは、明治時代 である。 当時 も、軍隊 や警察の制服は洋服であった が、普通の人々はまだ、着物を着ていた。 特に女性は、着物の人が多かった。 その後 、洋服を着る女の人は少しずつ 増えていったが、昭和の初めに行われた調査 の結果でも、洋服を着ている女性は、二割 ぐらいしかいなかった。

Việc người Nhật bắt đầu mặc âu phục là từ thời Minh Trị. Vào thời đó, trang phục của quân đội và cảnh sát đã là âu phục nhưng người dân thường thì vẫn mặc kimono. Đặc biệt là trong giới nữ, người phụ nữ mặc kimono rất nhiều. Sau đó thì số phụ nữ mặc âu phục tăng lên từng chút một nhưng theo kết quả điều tra được tiến hành vào thời đầu Chiêu Hòa thì việc phụ nữ mặc âu phục chỉ khoảng 20%.

The people began to wear outfits since the Meiji Era. At that time, police and military’s uniforms were outfits but ordinary people still wore kimonos. Especially in women, many of them wore kimonos. Then, the number of women wearing outfits went up gradually. However, according to a survey conducted in early Showa Era, the women wore western style clothes just about 20%.

ほとんどの 人が洋服を着るようになったのは、戦後 である。 現在 は、老人 でも、ふだん着物を着る人は少なくなった。

Khi đa số phụ nữ mặc âu phục là vào thời hậu chiến. Hiện tại thì, ngay cả người già, việc thường mặc kimono cũng đã ít đi.

The period when most women wore outfits was in the post-war. Currently, number of the elderly who often wore kimonos has been downward.

.

着物は、大変美しいが、着るのに時間がかかるし、動きにくい 。 特に、階段を上ったり、自転車に乗ったりスポーツをしたりする時、不便である。 しかし、洋服は着たり脱いだりするのも簡単だし、動きやすい。それで、洋服を着る人が増えてきたのである。

Kimono thì rất đẹp nhưng việc mặc thì mất thời gian và khó di chuyển. Đặc biệt là lúc đi lên cầu thang , lúc leo lên xe đạp hay lúc chơi thể thao thì bất tiện. Còn âu phục thì dễ mặc, dễ cởi, và cũng dễ di chuyển nữa. Do đó mà số người mặc âu phục ngày càng tăng lên.

Kimono is very nice but it is not only time-consuming when wearing but also difficult to move. Especially when we go up the stairs, ride bike or play sports, it is very inconvenient. Otherwise, costume is easy to wear, take off and move. So the number of public who wear outfits is going up.

明治時代 に日本に入ってきた洋服は、このように、百年ぐらいの間に日本人の生活に欠かせないものになった。 そして、着る人の少なくなった着物は、正月や成人式、結婚式など、特別な時にだけ着るものに変わった。

Âu phục mà đã du nhập vào Nhật bản từ thời Minh Trị, và cứ như vậy trong khoảng thời gian cả trăm năm, nó đã trở thành điều không thể thiếu được trong sinh hoạt của người Nhật. Vì vậy, những bộ Kimono mà đang được ngày càng ít người mặc thì đã trở thành y phục chỉ dành cho các dịp lễ cưới, lễ thành nhân, dịp tết, v.v…

Western clothes that were introduced into Japan in the Meiji Era, and so on over a hundred years, it has become indispensable in life of the Japanese people. Therefore, the kimonos which are worn by less and less people is becoming clothes just for special occasions such as wedding, holidays, Lunar New Year, etc.
.

Nguồn:

Tiếng Nhật:http://jplang.tufs.ac.jp/int2/yo/3/1.html

Dịch: Cua Đồng

TỪ VỰNG TRONG BÀI:
現在 (げんざい): hiện nay (Recently…)
第二次世界大戦後 (だいにじせかいたいせご):Sau Chiến tranh TG thứ 2 ( The Post-war of World War II)
変化 (へんか): thay đổi (change)
明治時代(めいじじだい): triều đại Minh Trị (Meiji Era)
当時 (とうじ): Vào lúc đó (At that time)
軍隊 (ぐんたい): quân đội (military)
調査(ちょうさ): điều tra (survey)
二割 (にわり): 20%
老人(ろうじん): người già (the elderly)

 
 

りんご- Táo- Apple

りんごは寒い地方で作られる。 青森県 と長野県 が、その産地 として 、特に有名である。
Táo thì được trồng ở những vùng lạnh. Aomori và Nagano được xem như là những vùng trồng táo nổi tiếng.
Apples are grown in cold areas. Aomori and Nagano are considered as the famous apple-growing regions.
りんごの花は五月に咲く。 そして、小さい実がたくさんなる。 一本の木に、あまり 多くの 実がなる と、大きい実ができない。 だから、丈夫そうな実だけ を残して 、外の実はとってしまう。Hoa táo nở vào tháng 5. Và rồi, bắt đầu kết thành những trái nhỏ. Nếu trên một cây mà có quá nhiều trái thì không thể thành trái to được. Vì thế, chỉ để lại những trái có vẻ tốt, còn lại thì hái bỏ đi.

Apple’s flowers bloom in May. Then, they become small fruits. If there are too many small fruits in a tree, they cannot be the big ones. So (the farmers) leave good fruits, and pick up the others)
害虫がつく のを防ぐ ために、袋をかぶせたり 農薬 をかけたり 、いろいろと世話 をして育てる。
Để phòng sâu hại tấn công, người ta chăm sóc bằng nhiều cách như là bọc lại bằng bao, xịt thuốc trừ sâu…
To prevent pest attack, they take care of them in many ways such as wrapping them in covers, spraying pesticides ..
りんごにはいろいろな種類 がある。 形の大きいものもあるし、小さいものもある。 色の赤いのもあるし、黄色いのもある。 また、夏ごろから食べられるものや、秋の終わり でなければ 、食べられないものもある。Táo có nhiều loại. Có loại hình dáng to, loại nhỏ, loại màu đỏ, loại màu vàng. Cũng có loại có thể ăn vào khoảng mùa hè, cũng có loại nếu không phải là cuối thu thì không thể ăn được.

There are many types of apples. Large shape, small shape, red , yellow . There’re also apples can be eaten in summer, and there’s also the type we cannot eat if the autumn is still not end.
寒い地方でとれた りんごは、箱に詰められ 、貨物 列車 やトラック に積まれて 、外の地方へ運ばれる。
Táo được hái ở những vùng lạnh sẽ được đóng hộp, chất lên xe tải và tàu lửa chuyên chở hàng, mang đến những vùng khác.
Apples which are harvested in cold regions are boxed, loaded into trucks and good trains,then be brought to other areas.
そして、町の果物屋 や八百屋 の店先 に並べられる のである。
Và rồi, táo sẽ được bày bán ở trước tiệm rau quả hay tiệm trái cây trong thành phố.
And then, apples will be showed in front of the grocery stores or fruit shops in the city.
Nguồn:
Dịch: Cua Đồng
Từ vựng trong bài: 
産地 (sanchi) : nơi sản sinh ra
青森県 (aomoriken): một huyện phía Đông Bắc Nhật
長野県 (Naganoken) : Một huyện miền Trung Nhật
~として(有名である)(toshite yuume de aru): được biết đến như là
実がなる (mi ga naru): kết trái
Nだけ : (N dake) : chỉ
残して・残す(nokosu): còn
害虫がつく (gaichyuugatsuku)  : bị sâu bọ
防ぐ(fusegu): phòng
かぶせたり・かぶせる (kabuseru): bao lại
農薬 (nouyaku): thuốc (trừ sâu)
かけたり・かける: xịt thuốc (nghĩa trong bài)
世話: (sewa): chăm sóc
種類( syurui): chủng loại
とれた・とれる(toreru): hái
詰められ・詰める (tsumeru): đóng hộp, đóng gói
貨物列車(kamotsu ressya): tàu vận chuyển hàng
積まれて・積む (tsumu): chất lên
果物屋 (kudamonoya): tiệm bán trái cây
八百屋 (yaoya): tiệm rau quả
店先 (mise saki) : trước tiệm
並べられる・並べる (naraberu): sắp xếp
 
 

うめの花と てんとう虫 (Hoa mai và bọ rùa)

DPP_4210[1]

春の はじめの お話です。

山の てっぺんから、お月様が 顔を 出して、「はっくしょん。」と、くしゃみを しました。
今夜は とても まむいのです。ふもとの 村の うめの えだでも、 だれかが、「くしょん。」と、くしゃみを して います。
だらかな。
きのう、あたたかだったので、ほろほろっと 一つ、白い うめの 花が さいたのです。

すると、もう 一つ、「くしょん。」
見ると、うめの 花の すぐ そばで、てんとう虫が ふるえて います。
赤い えりまきを して いるのですけど、ぷるぷる ぷるぷる ふるえて、なきそうです。

Đây là câu chuyện vào đầu mùa xuân. Từ trên đỉnh núi, ông mặt trời ló dạng, và lên tiếng ‘hắt xì’ một cái. Đêm nay trời rất lạnh. Trên cành mai dưới ngôi làng ở chân núi, có ai đó cũng ‘hắt xì’ một cái. Ủa, ai vậy ta? Vì hôm qua thật là ấm áp, nên một bông hoa mai trắng nở khẽ khàng.

Bỗng nhiên, một tiếng ’hắt xì’ lại vang lên. Nhìn kìa, có một chú bọ rùa đang run rẩy ngay bên cạnh bông hoa mai. Mặc dù đang quàng một chiếc khăn màu đỏ, chú vẫn run lẩy bẩy, giống như là đang khóc vậy.

「あらら。今ごろは まだ、みんな いっしょに ねむって いるんじゃ なかったの。」
うめの 花は、びっくりして たずねました。
「ぼく、すっかり 春だと 思ったの。きのう あんなに あたたかだったでしょう。ねどこから ひど出して、あっちこっち あそんでたの。そしたら、そしたら、こんなに さむく なるんだもの。もう、さむいし、さびしいし。くしょん。ぼく、何て あわてんぼだろう。」
てんとう虫は、下を むいて、また、ぷるぷるっと ふるえました。
「そうたったの。わたしも、やっぱり あわてんぼなの。ひとりで 先に さいて しまって。さむくて、さびしくて。くしょん。」
うめの 花も、ぷるぷるっと ふるえて、くしゃみを しました。

“A. Bây giờ chẳng phải mọi người vẫn còn đang ngủ sao?”
Hoa mai thấy ngạc nhiên và hỏi thăm.
“Tôi cứ tưởng mùa xuân đã đến rồi. Ngày hôm qua ấm áp thế cơ mà. Tôi đã rời tổ và bay đi chơi khắp đó đây. Sau đó, sau đó thì trời trở nên lạnh lẽo đến thế này. Vừa lạnh, mà cũng vừa buồn nữa. Hắt xì. Tôi thật làm một chú bọ vội vàng.”
Chú bọ rùa hướng xuống, tiếp tục run rẩy.
“Ra là vậy. Em cũng vậy đó, cũng là một chú bọ vội vàng. Em đã lỡ nở trước một mình mất rồi. Đã lạnh, lại còn buồn nữa. Hắt xì.”
Hoa mai cũng run lên vì lạnh, hắt xì một cái.

お月様は、こおりみたいに、すべすべ きんきんと 光って、つめたい 光を ふらせます。
山も 村も、草や 木も、しいんと だまって、つめたい 光を あびて います。

「ね、こんやは、わたしの ところで、おやすみなさい。」
「うん、ありがとう。きみが、さいて くれて よかった。」
その 夜、てんとう虫は、うめの 花に つつまれて、ほかほかと ねむりました。
うめの 花も、てんとう虫と いっしょに いて、ふんわり あたたかでした。

Ông trăng chiếu ánh sáng mượt mà và lạnh giá như nước đá. Cả núi cả thôn làng, cả cỏ và cây đều tĩnh lặng tắm mình trong ánh sáng lạnh giá.

“Này, tối nay hãy ngủ lại ở lại chỗ của em nhé.”
“Ừm, cám ơn em. Thật là tốt khi em đã nở cùng tôi.”

Đêm đó, bọ rùa được bé hoa mai bao bọc nên đã ngủ một giấc thật ấm áp. Ở cùng với bọ rùa, bé hoa mai cũng thấy nhẹ nhàng, ấm áp.

つぎの 朝は、ゆうべの さむさが うそみたい。ぽかぽかした よい 天気です。
てんとう虫と うめの 花は、くしゃみも わすれて 元気です。

そこで、てんとう虫は、はたけの 方へ とんで いく ことに しました。
あそこなら、お日様が 一日じゅう あたって いるから、きっと すっかり 春です。

Sáng hôm sau, cái lạnh tối hôm qua giống như là đùa vậy. Thời tiết dần ấm và đẹp hơn. Bọ rùa và hoa mai đều khỏe khoắn và quên cả hắt xì. Ngay sau đó, bọ rùa đã quyết định bay về phía cánh đồng. Ở nơi ấy, ông mặt trời hẳn là chiếu sáng suốt cả ngày, chắc chắn là mùa xuân rồi.
「このえりまき、きみに あげる。」
てんとう虫は、赤い えりまきを、うめの 花びらの 中に、そっと おきました。
「まあ、きれい。ありがとう。」
「あのね、ぼく、あわてんぼで よかった。きみと 友だちに なれたから。」
「わたしも、あわてんぼで よかった。あなたと 友だちに なれたから。」
いい においの 風に つつまれて、うめの 花と てんとう虫は、しばらく じっとして いました。
「また あそびに 来て いい。」
「ええ、もちろん。」
「さよなら。また いつかね。」
「さよなら。きっと また いつかね。」
てんとう虫は、何度も ふりかえりながら、とんで いきました。

“Chiếc khăn quàng cổ này anh xin tặng lại cho em.”
Chú bọ rùa nhẹ nhàng đặt chiếc khăn vào giữa cánh hoa mai.
“Ôi,  đẹp quá. Cám ơn anh.”
“Em biết không,vội vàng cũng hay đấy nhỉ. Vì anh đã có thể làm bạn với em.”
“Em cũng thấy vội vàng cũng tốt. Vì có thể trở thành bạn của anh.”
Được bao bọc bởi ngọn gió thơm lành, hoa mai và bọ rùa đều yên lặng.
“Lần sau anh lại đến chơi nữa nhé?”
“Tất nhiên rồi.”
“Tạm biệt. Hẹn lúc nào đó nhé.”
“Tạm biệt. Nhất định lúc nào đó gặp lại nhé.”
Chú bọ rùa bay đi, vẫn ngoảnh lại nhìn không biết bao nhiêu lần.

うめの 花の 中には、赤い えりまきが、ぽつりと 一つ。
今度、てんとう虫が あそびに 来た とき、すてきな 目じるしに なるでしょうね。

Ở giữa hoa mai có một chiếc khăn quàng cổ màu đỏ lẻ loi.
Lần sau, khi chú bọ rùa lại đến chơi, chiếc khăn này sẽ là một dấu hiệu tuyệt vời.

(くどう なおこ)

Nguồn:

Tiếng Nhật: Sách truyện đọc.

Dịch: Cua Đồng

 

Xin chia sẻ với mọi người 1 bản dịch khác hay hơn 🙂

HOA MAI VÀ BỌ CÁNH CAM

Đây là câu chuyện đầu xuân. Từ đỉnh núi, ông trăng ló dạng, rồi hắt hơi một tiếng “hắt xì”. Vì tối nay trời thật lạnh. Ngay cả  nhánh mai ở ngôi làng dưới chân núi, cũng có ai đó đang hắt hơi: “hắt xì”. Ai vậy ta?.          Vì hôm qua trời thật ấm áp nên một hoa mai trắng đã nhẹ nhàng hé nở. Ngay sau đó, lại có tiếng hắt hơi nữa “hắt xì”. Khi nhìn qua, ở ngay bên cạnh hoa mai, bọ cánh cam đang run rẩy. Tuy đang quấn chiếc khăn choàng cổ đỏ nhưng lại run lẩy bẩy như là sắp khóc. Hoa mai ngạc nhiên hỏi thăm: “Ôi chao, chẳng phải lúc này anh vẫn đang cùng mọi người ngủ hay sao?”. “Anh cứ tưởng là trời đã sang xuân rồi, hôm qua trời ấm áp đến thế mà? Anh bay ra từ chỗ ngủ, đi chơi khắp nơi. Và rồi, vì trời trở nên lạnh như thế này. Lạnh quá, buồn quá, hắt xì. Anh đúng là đứa hấp tấp”. Bọ cánh cam cúi mặt xuống rồi lại run lên lẩy bẩy. “ Ừ nhỉ, em cũng quả thực là đứa hấp tấp, đã một mình nở trước, lạnh quá, buồn quá, hắt xì”. Hoa mai cũng run lên lẩy bẩy rồi hắt hơi.

Ông trăng thì trông giống như băng tỏa sáng lấp lánh, chiếu ánh sáng lạnh lẽo. Núi cũng như thôn làng, rồi cỏ, rồi cây tất cả im phăng phắc tắm mình dưới ánh sáng lạnh lẽo đó.

“Nè. Tối nay anh hãy nghỉ lại ở chỗ em nha”. “Ừm, cảm ơn em, được em nở ra cùng anh thật là tốt”. Tối hôm đó, bọ cánh cam vì được hoa mai ấp ủ nên đã ngủ rất ấm. Hoa mai vì  ở bên bọ cánh cam, nên cũng cảm thấy rất ấm áp.

Sáng hôm sau, cái lạnh của tối qua giống như chuyện đùa. Thời tiết thật ấm áp. Hoa mai và bọ cánh cam trở nên khỏe hẳn, quên cả những cái hắt hơi tối qua. Do vậy, bọ cánh cam đã quyết định bay về phía nương rẫy. Nếu là đằng kia thì vì mặt trời tỏa sáng cả ngày nên mới là mùa xuân hoàn toàn. “Cái khăn choàng này, anh tặng em”. Bọ cánh cam nhẹ nhàng đặt cái khăn choàng đỏ vào cánh hoa mai. “Ôi, đẹp quá, cảm ơn anh”. “Này, anh dẫu là đứa hấp tấp cũng hay. Vì đã có thể trở thành bạn với em”. “Em cũng vậy, dẫu là đứa hấp tấp cũng hay. Vì đã có thể trở thành bạn với anh”. Hoa mai và bọ cánh cam được bao bọc bởi làn gió thơm ngát, lặng im bên nhau một lúc. “Anh lại đến chơi được không?” “Vâng, tất nhiên rồi”. “Chào em, hẹn gặp lại vào một ngày nào đó nhe”. “Chào anh, chắc chắn một ngày nào đó chúng ta sẽ gặp lại nhau”. Bọ cánh cam vừa bay đi vừa ngoảnh mặt lại không biết bao nhiêu lần. Ở giữa hoa mai có độc nhất một cái khăn choàng đỏ. Lần tới, khi bọ cánh cam đến chơi, đó sẽ trở thành một dấu hiệu tuyệt vời, đúng không nhỉ?!

Nguồn: https://www.facebook.com/notes/%E5%8B%89%E5%BC%B7%E3%81%AB%E3%81%AA%E3%81%A3%E3%81%9F%E6%97%A5%E6%9C%AC%E8%AA%9E/b%C3%A0i-d%E1%BB%8Bch-truy%E1%BB%87n-%E3%81%86%E3%82%81%E3%81%AE%E3%81%AF%E3%81%AA%E3%81%A8%E3%81%A6%E3%82%93%E3%81%A8%E3%81%86%E3%82%80%E3%81%97/544552098939007

 
 

子育て幽霊 (こそだてゆうれい)-Truyện: Hồn ma nuôi con-Story: The ghost raised a child.

子育て幽霊

(Hồn ma nuôi con)
むかしむかし、ある村に、一軒のアメ屋がありました。ある年の夏の事、夜も遅くなったので、アメ屋さんがそろそろ店を閉めようかと思っていると、
トントントントン
と、戸を叩く音がしました。

Ngày xửa ngày xưa, ở một ngôi làng nọ có một cửa hàng chuyên bán kẹo. Vào một buổi tối mùa hè nọ, vì trời đã tối rồi, nên người chủ tiệm kẹo nghĩ rằng đã đến lúc đóng cửa, thì ngay lúc đó, có tiếng gõ “cộc, cộc” ở cửa.

子育てゆうれい

「はて、こんな遅くに誰だろう?」
と、アメ屋さんが戸を開けてみますと、一人の女の人が立っていました。

「Cuối cùng thì, đã trễ như thế này rồi thì có thể là ai nhỉ?]

Người chủ tiệm mở cửa ra xem thử thì thấy một người phụ nữ đang đứng ở ngoài đó.

子育てゆうれい

「あの、アメをくださいな」
「あっ、はい。少々お待ちを」
アメ屋さんは女の人が持ってきたうつわに、つぼから水アメをすくって入れました。

[À, làm ơn lấy cho tôi một ít kẹo]

[ah, vâng, xin đợi một chút]

Và sau đó chủ tiệm đổ kẹo từ cái bình vào cái bát mà người phụ nữ đang cầm.
「へい。一文(いちもん→30円ほど)いただきます」
「ありがとう」
女の人はお金を払うと、消えるように行ってしまいました。

[Vâng, cho tôi xin nhận một đồng (bằng khoảng 30 Yên)]

[Cảm ơn.]

Người phụ nữ trả tiền xong, lập tức đi như biến mất.

次の日もアメ屋さんが戸締まりをしようと思っていると、また戸を叩く音がします。
「あの、アメをくださいな」
やはり、あの女の人でした。

Ngày tiếp theo cũng vậy, khi người chủ tiệm định đóng cửa thì lại có tiếng gõ cửa.

[Umm, làm ơn lấy cho tôi 1 ít kẹo]

Tất nhiên chính là người phụ nữ đó.

女の人は昨日と同じようにアメを買うと、どこかへ帰って行きます。
それから毎晩、女の人は夜ふけになるとアメを買いに来ました。
次の日も、その次の日も、決まって夜ふけに現れてはアメを買って行くのです。

Người phụ nữ cũng mua kẹo giống hôm qua và trở về nơi nào không rõ.

Từ hôm đó, mỗi tối, hễ đêm khuya là người phụ nữ đó lại đến mua kẹo.

Ngày hôm sau, hôm sau nữa, người đó luôn luôn xuất hiện vào nửa đêm để mua kẹo.

子育てゆうれい

さて、ある雨の夜。

 この日は隣村のアメ屋さんが訪ねて来て、色々と話し込んでいたのですが、
「あの、アメをくださいな」
と、いつものように現れた女の人を見て、隣村のアメ屋さんはガタガタ震え出したのです。

Và rồi, vào một đêm mưa.

Có một người bán kẹo ở làng bên đến thăm, đang cùng trò chuyện thì:

[Umm, làm ơn lấy cho tôi một ít kẹo]

Và rồi khi nhìn thấy người phụ nữ xuất hiện như mọi khi, người bán kẹo làng bên bỗng nhiên run lẩy bẩy.

子育てゆうれい

「あ、あ、あの女は、ひと月ほど前に死んだ、松吉(まつきち)のかかあにちげえねえ」
「えっ!」
二人は、顔を見合わせました。
死んだはずの女の人が、夜な夜なアメを買いに来るはずはありません。
しかし隣村のアメ屋は、間違いないと言います。
そこで二人は、女の後をつけてみることにしました。

[Aaaa, người phụ nữ đó đã chết 1 tháng trước, (khúc “松吉…ねえ” mình không dịch hoàn chỉnh đc, bạn nào giúp với ^^ )

[Sao cơ?]

Hai người đàn ông nhìn nhau.

Người phụ nữ đã chết không lí nào lại đến mua kẹo mỗi đêm như thế.

Tuy nhiên người bán kẹo làng bên lại nói là không thể nhầm lẫn được.

Và thế là hai người quyết định đi theo người phụ nữ đó.

子育てゆうれい

 アメを買った女の人は林を抜け、隣村へと歩いていきます。
その場所は、
「はっ、墓だ!」
女の人は墓場の中に入っていくと、スーッと煙のように消えてしまったのです。

Người phụ nữ đã mua kẹo ấy băng qua rừng và đi bộ về phía làng kế bên.

Nơi đó là…

[Hả? Đó là ngôi mộ mà!]

Người phụ nữ bước vào trong mộ và tan biến nhẹ nhàng như làn khói.

子育てゆうれい

「お、お化けだー!」
二人はお寺に駆け込むと、和尚(おしょう)さんにこれまでの事を話しました。
しかし和尚さんは、

[Ồ, là 1 con ma!]

Hai người đàn ông chạy vội đến ngôi chù và thuật lại câu chuyện cho vị hoà thượng.

Nhưng vị hoà thượng nói,

子育てゆうれい

「そんな馬鹿な事があるものか。きっと、何かの見間違いじゃろう」
と、言いましたが、二人があまりにも真剣なので、仕方なく二人と一緒に墓場へ行ってみる事にしました。
すると、
オンギャー、オンギャー

と、 かすかに赤ん坊の泣き声が聞こえてきます。

[Thật là chuyện hoang đường. Hẳn là (hai người) đã nhìn lầm rồi đấy!]

Nhưng vì hai người đàn ông trông rất nghiêm túc, nên ông đã miễn cưỡng quyết định đi cùng hai người đó đến ngôi mộ. Và bỗng nhiện họ nghe thấy tiếng khóc của một đứa trẻ nhỏ

[Oa,oa,oa]

子育てゆうれい

声のする方へ行ってみると、
「あっ、人間の赤ん坊じゃないか! どうしてこんなところに?!」

Và khi họ đi vế phía phát ra tiếng khóc thì

[Chẳng phải là đứa bé của một con người đó sao? Sao lại ở nơi này?]

子育てゆうれい

 和尚さんがちょうちんの明かりをてらしてみると、そばに手紙がそえられています。
「手紙によると、捨てられたのは数日前。それから何日もたつのに、どうして生きられたんじゃ?」
ふと見ると、あの女の人が毎晩アメを買っていったうつわが、赤ん坊の横に転がっていたのです。
そして、赤ん坊が捨てられたそばの墓を見ると。

Vị hoà thượng soi anh sáng của chiếc đèn lồng và thấy bên cạnh có một bức thư được gắn vào.

[Theo như bức thư thì đứa bé đã bị bỏ nhiều ngày rồi. Từ đó đến nay đã nhiều ngày trôi qua, tại sao vẫn có thể sống sót?]

Đột nhiên họ nhìn thấy cái bát mà ngời phụ nữ cầm đi mua kẹo mỗi đêm, nay đang nằm bên cạnh đứa trẻ nhỏ.

Thêm nữa, họ nhìn thấy đứa bé bị bỏ rơi ở gần ngôi mộ.

子育てゆうれい

「おお、これはこの前に死んだ、松吉の女房の墓じゃ!」
何と幽霊が、人間の子どもを育てていたのです。
「なるほど、それでアメを買いに来たんだな。それも自分の村では顔を知られているので、わざわざ隣村まで」
きっと自分の墓のそばに捨てられた赤ん坊を、見るに見かねたにちがいありません。
和尚さんは心を打たれて、松吉の女房の墓に手を合わせました。

[Ô, đây là mộ của vợ ông Matsukichi đây mà!]

Có con ma nào đó đã nuôi đứa bé của con người này.

[Hẳn là vậy rồi, cô ấy đã đến (làng tôi) để mua kẹo. Vì nếu ở trong làng của mình thì sẽ bị nhận ra

 ngay, nên đã cất công đi sang làng kế bên.]

Có lẽ cô ấy không thể chịu đuợc khi thấy một đứa trẻ bị bỏ rơi kế bên mộ của mình.

Vị hoà thượng vô cùng cảm động và đưa tay về phía ngôi mộ của vợ ông Matsukichi.

子育てゆうれい

「やさしい仏さまじゃ。この子はわしが育てるに、安心してくだされよ」
こうしてお墓に捨てられた赤ん坊は、和尚さんにひきとられました。
それからあの女の人がアメ屋さんに現れる事は、もう二度となかったそうです。

[Nam mô A di đà Phật! Tôi sẽ nuôi nấng đứa trẻ này, xin hãy yên tâm!]

Và rồi ông nhận lấy đứa trẻ bị bỏ rơi ở ngôi mộ đó.

                                            Thế là, chuyện người phụ nữ xuất hiện để mua kẹo không còn xảy ra thêm lần nào nữa.                                           おしまい

 Nguồn:

Tiếng Nhật: http://hukumusume.com/douwa/amime/jap/j07_08.html

Dịch: Cua Đồng

 

Sống. Live. 住みます。

Các bạn có bao giờ tự hỏi mình muốn gì trong cuộc sống này, hay điều gì là mục đích sống của mình không? Đối với mình, đây là một câu hỏi cực kì khó. Khó không phải vì không có câu trả lời, mà khó vì mình có quá nhiều lựa chọn cho câu trả lời (nói theo cách khác, câu trả lời của mình còn “tham” quá!), vậy thì trong số những câu trả lời đó, đâu mới thực sự là mục đích sống của mình?

Have you ever wondered what you want most in life, or what is your purpose of life? This is a very difficult question for me. It’s difficult not because there’s no answer for it, but because I have many answers (in others word, my answer was so “covetous”). So, among those answers, what is my purpose of life?

Nhiều người cho rằng, tại sao cần phải nghĩ đến mục đích sống? Nó đâu có giúp gì cho sự nghiệp của bản thân? Và nó quá mơ hồ, có cần phải nghĩ đến không? Nếu bạn nghĩ vậy, thì chúng ta giống nhau . Mình cũng chưa từng nghĩ tới 3 chữ ấy, và cứ thế thức dậy, học tập, làm việc, đi chơi…như thế không phải là đủ rồi sao? Nhưng, cho tới khi mình thấy rằng, mình đang lặp lại 1 chu kỳ, chứ mình chưa thực sự “sống có mục đích”. Mình bắt đầu thấy chán khi phải làm đi làm lại công thức đã định sẵn, ham muốn thì nhiều nhưng đạt được chẳng bao nhiêu. Mục tiêu giăng đầy trước mắt nhưng chẳng cái nào hoàn thành cả. Mình bắt đầu nghĩ tới, tại sao mình đặt ra những mục tiêu đó, tại sao mình phải đạt được những điều đó, và khi có được nó rồi, mình sẽ làm gì với nó ? Và rồi, dẫn tới việc mình nghĩ tới câu hỏi THỰC RA MÌNH MUỐN GÌ TRONG CUỘC SỐNG NÀY?

Many people think that, why do we need to think of purpose of life? It doesn’t give any help for our own career? And it’s so dubious, do we need to think of it? If you think so, we are the same. I had never thought of these 3 words, and I just waked up, learned, worked, and played…Is it enough? However, I realised that I was repeating a cycle, not “living with a purpose”. I began to get bored with returning an “available formula”, I desired many things, but I achieved not many. A lot of goals weren’t also finished. And I started asking myself: why I set those goals, why I have to gain, and when I obtained it, what would I do? And then it leads to the question: WHAT I WANT THE MOST IN LIFE?

Và mình tìm ra rằng, cách xác định mục đích sống không quá khó như chúng ta nghĩ, mà chỉ vì chúng ta nghĩ nó quá trừu tượng, và chúng ta thường lầm tưởng nó với những mong muốn nên lãng quên việc tìm ra nó. Mong muốn thì rất nhiều, nhưng mục đích chỉ có một. Hãy lấy một cây bút và một trang giấy trắng,sau đó thử trả lời thành thật 3 câu hỏi sau:

  1. Điều gì với bạn là quan trọng nhất?
    1. Nếu bạn chỉ có 1 ngày để sống thì điều gì bạn muốn làm nhất?
    2. Nếu chỉ có 1 điều ước, bạn sẽ ước gì?

Ba câu hỏi trên có vẻ rất đơn giản, nhưng sẽ mất rất nhiều thời gian để bạn trả lời thành thật và chính xác nhất. Có quá nhiều thứ chúng ta muốn trong cuộc sống, nhưng chỉ có 1 thứ chúng ta muốn nhất, khát khao nhất, và hạnh phúc nhất khi có nó. Khi tìm được nó rồi, mình cảm thấy những ngày của mình trôi qua không vô nghĩa nữa.

And I found that the way to determine the purpose of life is not too difficult as we think, we just think it is too abstract, and we often mistake it with the desire so we forget to find it out. There ‘s a lot of Desire, but there’s only one Purpose. Take a pen and a blank paper, then try to answer these three following questions honestly:

1. What’s most important to you?
2. What would you do if you had one they left to live?

3. If you had one wish, what would it be?
These three questions seem to be very simple, but it will take a lot of time for you to answer honestly and accurately. There are so many things we want in life, but only one thing we want most, desire it, and happy with it. After getting the answer, there’s no meaningless day in my time 🙂

Written by: Cua Đồng

 
Leave a comment

Posted by on March 3, 2013 in 人生-Life-Cuộc sống

 

IELTS writing task 2: Advantages and disadvantages of the increase in flights

Since the first flight of an airplane of Wright Brothers, the aviation has had a dramatic development. Nowadays, many people choose airplane instead of other modes of transports when they go for holidays, or for business activities and commercial purposes thanks to many advantages that such flights bring to. However, there are also disadvantages about this type of transport. This essay will present both some benefits and drawbacks of such flights.

First of all, the popularity of flying has good impacts on both local and global economies. The first reason why people prefer going by plane is time-saving. In the past, people could only use ships or cars to commute between great distance, especially to another continent, which took many days and months. Recently, thanks to flights network, all those difficulties have been solved easily. With the high speed, we can go across continents within twenty hours or fewer. Besides, the commercial transactions and business activities have been dealt more efficiently. Both producers and customers are satisfied with this mode because the good of the former can come to market more quickly, and the latter can use those products sooner. Such flight also plays an important role in import and export by making gross domestic good increase and solving the workforce problem.

On the other hand, the high number of flights causes the following negative impacts. An airplane consumes  a larger amount of petroleum than other means of transportation.  Worse still, the more fossil fuel consumed, the more pollution the environment will be suffered. Moreover, flights have been affected by many factors such as weather, security…Thus, scheduled flights have to be postponed or cancelled which causes inconvenience for passengers. Despite of highest speed and modern facilities of airplane, the high price of flight also make people hesitate when they want to travel by plane, so they have to choose another transport.

In conclusion, although such flights can increase Gross Domestic Product, save time and make people more comfortable when traveling,they also damages environment by exhausting fumes and making troubles when the flight was canceled or delayed. However, in my opinion, the advantages of using airlines still outweigh the disadvantages.

Written by Cua Đồng

 
4 Comments

Posted by on March 2, 2013 in IELTS