RSS

Kinh nghiệm luyện thi IELTS.

Vậy là đã thi xong JLPT, kết quả thế nào vẫn chưa biết vì không ghi lại đáp án để về kiểm tra ^^. “Thừa thắng xông lên”, quyết định quay trở lại tập trung luyện thi…IELTS (có liên quan không nhỉ? :D). Tình cờ đọc được 1 bài viết hay, chia sẻ kinh nghiệm bản thân trong quá trình luyện thi IELTS của bạn Hằng ở Quảng Trị. Tuy không chia sẻ về tài liệu luyện thi nhưng mình nghĩ bạn sẽ tìm được những thông tin hay phương pháp học phù hợp với mình. Các bạn đọc tham khảo nhé!

i-love-ielts

“Tại sao mình viết?
Mình đã định viết về hành trình học tiếng Anh và kinh nghiệm apply học bổng khi biết tin được học bổng ALA học ở Úc. Nhưng phần thì lúi búi chuẩn bị khăn gói quả mướp vượt đại dương, phần lại muốn kiểm nghiệm thêm một thời gian nữa …cho đến hôm nay – khi đã hoàn thành chương trình thạc sỹ, ngẫm nghĩ và rút ra được một số điều trong quá trình học tiếng Anh, mình muốn chia sẻ với các bạn với mong muốn các bạn đi xa hơn, nhanh hơn và ít vấp váp hơn mình. Và hơn hết, mình muốn nhắn nhủ: nếu bạn có ước mơ/đam mê gì đó, hãy bắt tay vào làm và kiên trì thực hiện từng bước một, bởi vì “nơi nào có ý chí, nơi đó có con đường”.

Kinh nghiệm học tiếng Anh, luyện thi IELTS, apply học bổng và học tập ở nước ngoài có rất nhiều. Chỉ cần google với các từ khóa “kinh nghiệm luyện thi IELTS” “kinh nghiệm học tiếng Anh”,….sẽ có rất nhiều bài viết của các bạn đi trước đúc kết lại, dành thời gian để đọc và note lại những ý kiến hay thì cũng hòm được kha khá làm vốn lận lưng để khỏi bở ngỡ về phương pháp. Tuy nhiên trong quá trình luyện thi và apply học bổng sẽ có rất nhiều khó khăn và vấp váp, có người vượt qua được và đi tiếp, có người phải bỏ cuộc chơi. Những khó khăn đó là gì, làm thế nào để vượt qua những khó khăn này để đi đến đích? Một loạt bài viết của mình về chủ đề này sẽ lần lượt lột tả những vấn đề đó.

Khả năng Anh văn của mình lúc bắt đầu: Học nhiều nhưng vẫn mất căn bản.
Những kinh nghiệm của mình có lẽ phù hợp cho những bạn không được học Anh văn bài bản từ hồi phổ thông nhưng vẫn khát khao học và sử dụng được tiếng Anh. Mình bắt đầu học tiếng Anh từ hồi lớp 6. Cô giáo mình vừa mới tốt nghiệp Cao đẳng sư phạm Quảng Trị, dáng cao, tóc dài, đẹp mộng mơ, viết trên bảng chi chít chữ. Mình nhớ như in các buổi học tiếng Anh đầu tiên, ngồi viết lại các phiên âm mà y chang ngồi vẽ nốt nhạc, khó kinh !!!. Rồi lên lớp 8, ba mình cho đi học tiếng Anh Headway A buổi tối. Ba mình nói con phải giỏi tiếng Anh mới có tương lai, mình hăm hở đi học dẫu không biết cái “tương lai” nớ a răng. Lên cấp 3, chương trình tiếng Anh hệ 7 năm khó như ma, điểm kiểm tra toàn vớt vát 6 với 7. Chương trình Anh văn Đại học dễ hơn cấp 3 nên mình lại nổi. Trước thi học kỳ, mình hay “gia sư” cho các bạn trước khi thi và chuẩn bị thi lại. Trong suốt thời gian cấp 2,3, Đại học lúc nào cũng học Ngữ pháp tiếng Anh hết: thì hiện tại, quá khứ, tương lai, hiện tại hoàn thành, quá khứ hoàn thành…. Cú pháp mình thuộc răm rắp, đặt câu tạm tạm, nhưng viết hay nói một đoạn vận dụng các thì này thì mình rối, không làm được. Vậy là sau tròn 10 năm học Anh văn, thi đầu vào của mình là cấp độ 4, khoảng 4 điểm IELTS với khả năng phát âm kinh hoàng, không ai hiểu nổi, nghe hội thoại không điền được vì không hiểu người ta nói cái chi dù nghe rõ mồn một từng từ. Tóm lại mình phải bắt đầu từ đầu. Mà bắt đầu từ tờ giấy trắng còn dễ hơn là bắt đầu từ tờ giấy viết nhiều nhưng sai tè le, phải tẩy cái sai đó và viết lại, gian nan lắm. Khi mình động viên các bạn học AV thì các bạn nói tại mình có kiến thức sẵn rồi nên bắt đầu dễ. Thực ra không phải như vậy, biết mà biết sai còn nguy hiểm hơn rất nhiều so với chưa biết và bắt đầu học mới từ đầu.
Xác định tư tưởng: thi được IELTS 6.5 là một việc khó nhưng ai cũng có thể làm được miễn có quyết tâm
Giới hạn duy nhất chính là suy nghĩ của chính bản thân mình. Nếu mình tự tin vào bản thân sẽ làm được, thì không có gì có thể cản trở được hết. Hầu hết các trường ĐH và chương trình học bổng đều chấp nhận IELTS 6.5, không có môn nào dưới 6 để cấp thư nhập học và cấp học bổng cho sinh viên. Phương pháp học mỗi người mỗi kiểu, kiểu nào cũng được, miễn là mình thích phương pháp đó thì cứ làm. Làm một thời gian nếu không thích nữa thì chuyển sang phương pháp khác. Phương pháp này thành công cho người khác chứ chưa chắc đã tốt với mình. Nhưng đã chọn phương pháp nào thì nên kiên trì áp dụng một thời gian khoảng 1 -2 tháng xem thế nào, vượt qua được giai đoạn này, mình sẽ biết được mình cần cái gì cho thời gian tiếp theo. Trong số những người muốn học Anh văn, chỉ có 10-20% vượt qua được giai đoạn 1-2 tháng đầu, và đây chính là những người có khả năng đi đến đích cao. Giống như đẩy một tảng đá vậy, đầu tiên mình sẽ mất rất nhiều sức, nhưng khi hòn đá đã lăn, mình sẽ ít dùng sức hơn. Học AV cũng vậy, khó khăn nhất là vượt qua được giai đoạn thử thách ban đầu, khi có đà thì sẽ thấy dể thở dần dần và chuyển sang thích học.
Lập và bám sát kế hoạch đề ra, kỷ luật bản thân
Mình mất 7 tháng để luyện IELTS ở trung tâm ELI Đà Nẵng, vừa học vừa đi dạy kèm Anh văn. Luyện IELTS rất cần tập trung cả về thời gian và kiên trì trong suốt quá trình học. Thường học 1 tuần 3 buổi, 1 buổi từ 1,5h nên chủ yếu là tự học, lên lớp chỉ là môi trường để tương tác với các bạn trong lớp, nếu mình trông chờ từ thầy thì khó để đạt được điểm số mong muốn.
Mình lập kế hoạch theo tháng và theo tuần. Ví dụ theo tháng thì mình đề ra trong tháng này mình cần học xong những quyển sách nào. Thường 1 quyển sách mình làm đi làm lại từ 2-3 lần mới kỹ nên nếu như lần đầu cần 1 tuần để học xong, thì lần hai chỉ cần 2-4 ngày và các lần học sau mình mới hiểu những chổ mà lần học thứ nhất mình chưa hiểu rõ, và thường đó là những cái quan trọng. Danh mục các sách học IELTS các bạn có thể google, các bạn đi trước đều có phân loại theo các trình độ. Nếu bạn nào ở Huế, ĐN mình sẽ cho mượn photo vì các em mình đang giữ.
Mỗi sáng đến trường mình viết ra kế hoạch cho buổi sáng ra một tờ giấy nhỏ để trước mặt, đặt thêm cái đồng hồ, từ mấy giờ đến mấy giờ học cái chi cái chi. Nghe nói đọc viết cứ luân phiên nhau mỗi thứ một ít, nếu học tập trung một kỹ năng trong một thời gian hơn 1 tiếng thì buồn ngủ vô cùng. Mà khi buồn ngủ quá thì mình gục mặt xuống bàn ngủ chút, tỉnh dậy học tiếp, tiếp thu sẽ nhanh hơn (không sợ xấu hổ, hề hề). Lập kế hoạch tương tự cho buổi chiều. Buổi tối học tự do, thích chi học nấy và làm những phần không đạt trong kế hoạch của cả ngày.
Kinh nghiệm của mình khi lập kế hoạch là không được THAM: đặt vừa sức mình để có thể hoàn thành. Nếu đặt vượt sức thì mình sẽ không hoàn thành được trong buổi này, kéo theo không hoàn thành trong buổi tới, cứ như vậy mình sẽ đuối…và sẽ lập lại kế hoạch khác . Khi đã lập ra thì kiên quyết làm bằng được, mình tự nhủ nếu mình không làm được vì những lý do không chính đáng (bạn bè rủ rê, lướt net…) thì thấy mình không trung thực với chính mình, nói một đường làm một nẻo…và mình sợ cảm giác mình tự lừa dối mình nên phải cố gắng làm cho được mới thấy thanh thản.
Một điều quan trọng nữa trong thời gian học là nên hiểu năng suất lao động của con người tăng theo đồ thị hình sin, nó tăng lên đạt maximum rồi giảm xuống. Mình không muốn nó giảm xuống chạm đáy thì phải tác động lúc nó đang trên đà giảm xuống bằng hoạt động chân tay: chạy ra ngoài, tung quả banh, đi dạo…tránh ngồi lỳ một chổ trong thời gian quá 45 phút. Check facebook, chát, lướt net không phải là hoạt động giải trí, lúc đó não vẫn làm việc và như vậy năng suất lao động của mình sẽ giảm dần, giảm dần và ….chạm đáy. Do vậy mình thường chia mỗi nội dung học 45 phút, chạy ra ngoài múa máy nói chuyện 15 phút rồi vào học tiếp. Học 45 phút chưa mệt vẫn nghĩ để tránh năng suất chạm đáy.
Điện thoại luôn luôn để ở nhà.

Trình tự học một ngoại ngữ mới nên là: Nghe – Nói – Đọc – Viết
Mãi về sau mình mới phát hiện ra mình đã học và được dạy sai phương pháp, sai trình tự. Một đứa trẻ khi sinh ra nó sẽ nghe trước, người lớn nói chuyện là chúng nó hóng tai lên nghe, mặt cười cười, đó là gia đoạn tích lũy về ngôn ngữ thông qua nghe. Sau đó đến 3-4 tuổi nó sẽ nói bập bẹ nói theo người lớn, 5-6 tuổi nó lại đi học viết, rồi mới đọc. Vậy trình tự học ngôn ngữ của một đứa trẻ là nghe-nói-đọc-viết. Trong khi đó ở trường, học sinh lại được dạy theo trình tự ngược lại. Làm ngược lại với quy trình tự nhiên của việc học môn ngôn ngữ mới sẽ hạn chế khả năng học của bản thân rất nhiều. Khi xác định mình đi sai trình tự, phải dừng lại và khởi động lại từ đầu, không nên đi tiếp nữa. Vậy nên, phải bắt đầu từ việc học nghe.

Nhưng học nghe là khó nhất, đòi hỏi kiên trì nhất. Các bạn mình hay hỏi cách học AV. Mình góp ý với các bạn là phải học nghe trước, nghe kiên trì và liên tục trong vòng 6 tháng. Khi làm được như vậy, ngữ pháp, phát âm, ngữ điệu và từ vựng sẽ theo đó mà ngấm dần dần. Hơn 90% các bạn của mình không thể theo được phương pháp này trong tháng đầu tiên vì hiệu quả quá mơ hồ. Nhưng thực sự, đó là cách hiệu quả nhất, theo mình, để cải thiện tiếng Anh, sau khi áp dụng rất nhiều phương pháp khác nhau được chắt lọc từ các kinh nghiệm của người đi trước qua đọc sách, tham khảo ý kiến của bạn bè và google.

Vậy nghe như thế nào: Các bài trong phần Learning English của BBC hay VOA rất hữu ích, phát âm chậm rãi, chuẩn, các bài ngắn, có transcript. Thầy giáo chủ nhiệm ĐH giúp mình học AV bằng cách thầy chọn down một bài bất kỳ trên VOA, chỉ đưa cho mình file audio, không đưa transcript, nói mình về nghe rồi viết ra bằng tiếng Việt bài đó nói cái gì. Đó là bước đầu luyện cho mình tính kiên trì, nghe đi nghe lại một bài như cháo mà không chán. Nhưng khi ngủ thì nhớ tháo tai phone ra khỏi tai, nếu không sáng mai dậy sẽ đọa luôn. Ngoài ra trang TED.com có rất nhiều bài nói chuyện hay, là nguồn ý tưởng mới và phong phú cho bài viết và nói (highly recommended)

Trong quá trình luyện IELTS, mình sắm một cái mp3, down các bài trên VOA và BBC về để có giọng Anh và Mỹ lẫn lộn, tránh bị khớp khi vô thi. Down cả trăm bài như vậy, chèn rải rác là các bài hát tiếng Anh mình thích để làm cho mình khỏi chán khi nghe liên tục các bài text. Buổi sáng mở mắt ra là lật đật cắm tai phone vào tai rồi làm chi thì làm, đi học đạp xe đạp cũng cắm vào tai, rửa chén bát cũng cắm, đi WC cũng cắm nốt. Nói chung là mình hạn chế nói tiếng Việt, tranh thủ nghe tiếng Anh mọi lúc, mọi nơi. Làm liên tục 6 tháng như vậy, tiếng Anh của mình tiến bộ lên một bước rõ rệt, các kỹ năng khác theo đó cũng tiến bộ dần và tốc độ học nhanh hơn đáng kể.

Trước khi bắt đầu học tiếng Anh, mình đọc một số sách về phương pháp, điển hình là quyển “Em phải đến Harvard học Kinh tế” do bố mẹ của Lưu Diệc Đình viết. Phương pháp mà em ấy và mẹ áp dụng rất công phu, bài bản, bắt đầu từ lúc còn nhỏ. Mình cũng google phương pháp học tiếng Anh, kinh nghiệm luyện IELTS,….google ngồi đọc cả tuần, note lại những phương pháp hay và lần lượt áp dụng. Mình rút ra là nên bắt đầu học Anh văn bằng học nghe, đó là cách làm hiệu quả và khôn ngoan.

Không nên “đi tắt đón đầu”, đốt cháy giai đoạn khi luyện IELTS
Một sai lầm rất lớn của mình lúc luyện IELTS là bắt cứ cầm quyển đề IELTS Cambridge ra làm, nghe hoài không lên, đọc hoài không lên, chỉ làm cho mình đuối thêm và nghi ngờ về năng lực học của chính bản thân mình. Sau hai tháng ròng rã theo luyện bộ sách này mà không có kết quả, mình quyết định bỏ, chuyển hướng sang những bài nghe dễ hơn trong sách Listen In 2,3; đọc các mẫu báo nhỏ, mẫu quảng cáo, đọc truyện ngắn, đơn giản. Sau 1 tháng làm như vậy, quay lại giải đề trong quyển Cambridge, điểm số tăng gấp đôi. Sau đó mình nghe các quyển đề thi IELTS nhưng dễ hơn như IELTS preparation, IELTS on track, IELTS listening. Dần dần như vậy, một tháng trước khi thi mới quay lại làm bộ đề của Cambridge. Kinh nghiệm rút ra: khi thấy phương pháp học hiện tại chưa hiệu quả, quay về học cái đơn giản hơn, cấp thấp hơn rồi trở lại với các phương pháp khác. Bởi vì IELTS nó đánh giá khả năng sử dụng ngôn ngữ nên kiến thức nền rất quan trọng, không có kiến thức này thì khó đạt điểm cao trong IELTS. Và sai lầm của mình lúc học là chăm chú vào đạt điểm cao trong IELTS mà không đầu tư vào xây dựng kiến thức nền tảng, nên mình đã thất bại, mất nhiều thời gian cho việc chỉnh sửa này. Mình liên tưởng đến quy luật chất và lượng trong triết học, cứ từng bước xây dựng nền tảng tiếng Anh trên cả 4 kỹ năng, khi tích lũy khá cứng rồi chuyển qua luyện các bộ để IELTS sẽ nhanh hơn, không nên làm ngược lại. Nếu không, cứ thi hoài điểm khó mà lên được, khi bị thiếu môn này, khi bị thiếu môn khác vì chưa đủ lượng để tạo ra bước nhảy dẫn đến thay đổi về chất-thể hiện ở điểm thi IELTS.

Xây dựng từ vựng và kiến thức nền như thế nào?
Cả bốn kỹ năng IELTS yêu cầu người thi phải có kiến thức về tự nhiên và khoa học xã hội khá rộng mới có thể nghe hiểu, nói, đọc và viết dễ dàng. Yếu điểm của mình là mình thiếu kiến thức về âm nhạc, hội họa, nghệ thuật, bảo tàng, du lịch. Thiếu trầm trọng !!!!!. Nhìn vô câu hỏi là cứng miệng, không biết nói chi hết. Và cái yếu lớn nhất của miềng là khả năng miêu tả, trình bày. Tích lũy từ vựng đã khó nhưng làm thế nào để phối hợp các từ với nhau để tạo thành câu, đoạn. Cái này mất rất nhiều công sức.
Mình sắm một quyển vở dày, giấy đẹp. Chia ra các chủ đề theo quyển Vocabulary for IELTS: Giáo dục, Khoa học – công nghệ, Môi trường, Du lịch, Nghệ thuật, Xã hội, Y tế…. Mỗi lần mình đọc trên báo, lượm lặt trong các bài nghe, đọc được trong sách đâu đó có những cụm từ hay thì ghi lại theo các chủ đề này. Mỗi chủ đề thu gom được 3-5 trang từ vựng là có thể nói và viết được kha khá.

Sau khi gom từ vựng, hàng ngày mình giở vở ra coi, cứ coi đi coi lại cho những từ này ngấm vào đầu. Thường mình làm việc này vào buổi tối, trước khi đi ngủ. Rồi mình đặt câu, viết thành đoạn. Khi viết đừng thiệt thà quá, có răng nói rứa, không có răng nói sún mà cứ bịa chuyện một chút, cứ tưởng tượng một chút và viết cho dài dài ra. Dần dần như vậy, mình đã cải thiện khả năng miêu tả và viết của mình. Một điều rất quan trọng nữa là không nên chép theo mẫu câu ai đó đã làm vì examiner được đào tạo để phát hiện cái này. Nên cứ phát triển khả năng ngôn ngữ của chính mình chứ không nên copy của người khác: bản thân mình không tiến bộ mà examiner thường không cho điểm cao. Đó là lý do các bạn Tàu của miềng tốt nghiệp xong, ở lại cả năm trời luyện IELTS, thi 5-6 lần mà không đạt được điểm mong muốn vì các bạn học theo các bãi mẫu đã được sinh viên Tàu lan truyền khá rộng rãi trong cộng đồng của mình. Mình cũng xin copy các bài mẫu này cho em gái, không biết có phải nó học theo mấy bãi mẫu này hay không mà điểm thi lần 2 thấp hơn cả lần 1. Lý do đơn giản là examiner được đào tạo để nhận dạng các bài viết và bài nói mẫu này, nên khi mình mở miệng ra nói, khả năng rất cao là người ta biết mình học theo tài liệu nào, nên họ không thể cho điểm cao. Giáo dục phương Tây chú trọng khả năng tư duy độc lập nên họ không chấp nhận học vẹt cũng là điều dễ hiểu.
Kỹ năng nói và viết IELTS: luôn luôn “đứng trên hai chân”
Phần hai bài viết và phần 3 bài nói thường yêu cầu thí sinh đưa ý kiến cá nhân của mình về một vấn đề nào đó. Để đạt 6.0 trở lên điểm viết và nói, nhất định mình phải có quan điểm (argument) riêng của riêng mình. Thiếu cái này thì dù bài viết có hay đến mấy, khó mà đạt được điểm 6. Đưa ra quan điểm của chính mình đối với một cấn đề xã hội nào đó rất khó bởi vì từ nhỏ mình toàn được đào tạo theo phương pháp học thuộc rồi trả bài, ít đưa ra ý kiến chủ quan của mình và dùng lý lẽ mạnh để bảo vệ nó. Vậy làm thế nào để phát triển khả năng này?. Mình search trên google với các key words là đề bài rồi đọc và note lại những ý, quan điểm mà mình thích và ủng hộ. Khi đọc báo, có ý gì hay thì ghi lại, hoặc trong quá trình làm bài đọc hay nghe nếu thấy có ý chi hay cũng note lại. Ghi vào một sổ phát triển từ vựng theo các chủ đề, phát triển vốn từ vựng, sau đó tự đặt câu và viết thành đoạn. Việc này mất rất nhiều thời gian và đòi hỏi sự kiên trì, nhưng đó là cách rất tốt để hệ thống lại những cái mình đã học, rất hữu ích trong việc phát triển khả năng sử dụng tiếng Anh.
Có hai lý do mình nên viết và nói ở thể đứng hai chân: phân tích một vấn đề, quan điểm trên cả hai mặt tốt và xấu.
+ Thứ nhất: Khi viết và nói dùng hai chân như vậy, mình sẽ viết được dài và nhiều, đảm bảo đủ 250 từ cho tast 2. Nếu viết dư vừa phải thì không bị trừ điểm nhưng nếu thiếu từ thì bị trừ điểm.
+ Thứ hai: Giáo dục phương Tây nói chung khuyến khích sinh viên suy xét sự việc/hiện tượng trên nhiều khía cạnh khác nhau. Cái này nó làm nền tảng cho critical thinking, một kỹ năng rất quan trọng để thành công trong môi trường học thuật phương Tây.
-Không nên học theo các bài viết và bài nói được điểm cao trên mạng và trong sách (vì những bài này trình quá cao, do các examiner hoặc các bạn thi điểm cao viết), mà cứ phát triển khả năng ngôn ngữ của mình theo cách bình thường, tự nhiện, sức mình đến đâu dùng đến đấy: sử dụng các điểm ngữ pháp thông dụng, dùng nhiều thì hiện tại hoàn thành, sử dụng cấu trúc câu câu đơn và câu phức với các đại từ quan hệ (who, whom, which, that) để làm câu dài ra. Về cấu trúc bài viết: Lập một sườn bài cho tast 2: mở bài có mấy câu, thân bài có hai đoạn, mỗi đoạn có mấy câu, mấy ý?. Chuẩn bị cho mình một số mẫu câu thông dụng dùng trong phần này đến lúc phát đề may ra viết mới kịp. Chú ý dùng nhiều các liên từ (trong bài thi IELTS được khuyến khích dùng nhiều nhưng khi đi học làm assignment hoặc viết luận văn thì không nên dùng liên từ nhiều. Các thầy cô hay gọi đấy là “Hội chứng IELTS”). Những kỹ thuât đơn giản này có thể giúp bạn đạt điểm viết và nói ít nhất là 6.
Đầu vào và đầu ra
Một điểm quan trọng nữa là đầu vào (input): nghe, đọc nhiều thì đầu ra (output): viết, nói theo đó cũng nhiều lên. Do vậy muốn nói và viết tốt thì phải tăng cường nghe và đọc để lấy thông tin. Hai quá trình này bổ sung qua lại cho nhau và nên làm song song. Nghe không chỉ có các đề trong sách luyện thi IELTS mà nghe từ nhiều nguồn khác nhau để lấy ý tưởng cho bài viết và bài nói. Hơn nữa accent trong các đề luyện IELTS là giọng Anh chuẩn, nếu mình chỉ nghe giọng này thì khi có giọng Úc hay giọng Mỹ, mình sẽ bị khớp. Trường hợp này hay gặp trong phần 1 bài nghe, câu hỏi dễ, yêu cầu dễ nhưng chỉ cần giọng Úc hay Mỹ nói thì mình hay bị khớp vì thấy lạ. Mà khớp phần 1 nếu không lấy lại bình tĩnh nhanh chóng thì 3 phần nghe sau rất dễ bị đứt. Vì vậy nghe giọng Úc trên Behind The News, nghe giọng Mỹ ở VOA và nghe giọng Anh ở BBC. Down các bài nghe trên các kênh này về, trộn lẫn với nhau rồi nghe dần dần cho quyen với các accent.
Khi luyện nghe mình hay nghe bằng tai phone cho tập trung, nhưng trước khi đi thi một tháng thì nên mở loa ngoài ra nghe cho quen. Hình như ở trong Sài Gòn Hội đồng thi cho đeo tai phone, còn ở Đà Nẵng thì mở loa, vẫn rõ ràng nhưng nếu không làm quen trước cộng thêm tâm lý căng thẳng cũng rất dễ bị khớp.

Luyện viết IELTS: Viết nhiều sẽ tiến bộ dần dần
Luyện viết, nhất là tast 2 cũng đòi hỏi kiên nhẫn như môn nghe vậy. Cái khó nhất trong môn viết là thiếu ý tưởng và cách để đắp lỗ hổng này là đọc nhiều và nghe nhiều. Khi luyện một tuần mình viết 2-3 bài, đến đoạn gần thi thì mỗi ngày viết một bài. Viết xong đưa cô giáo sửa, thường cô sửa không nhiều ngoài các mạo từ vì mình viết dỡ quá. Cách sửa tốt nhất chỉ có đường viết lại, mà viết lại thì cô không có thời gian. Nên đến khi cô trả bài cho mình, cô trả một xấp khoảng chục bài trong sự trầm trồ than phục của bạn cùng lớp, chỉ có cô với mình mới biết mình viết dở như thế nào, hề hề. Nhưng kệ, mình cứ viết và cứ như vậy, khả năng viết cũng cài thiện dần dần. Sau này mình mới biết khi tăng số lượng thì chất lượng cũng cải tiến theo. Đó là phương châm trong đào tạo tiến sỹ của một số nước mình biết: Hàn, Nhật…Cứ làm cật lực, xuất bản paper càng nhiều càng tốt, chất lượng paper cũng theo đó dần dần tăng lên theo số lượng. Vậy nên cứ viết, viết và viết liên tục thì khả năng viết sẽ theo đó cải thiện. Nhưng đặt mục tiêu thì dễ mà đạt được mục tiêu mới khó. Để theo được mục tiêu, mình có một nguyên tắc là “trung thực với chính bản thân mình”, nghĩa là khi mình đã hứa thì nhất định phải làm, nếu không làm thì có cảm giác tội lỗi với chính mình, giống như tội lừa dối với chính bản thân mình vậy. Khi đặt ra nguyên tắc như vậy nếu mình không thực hiện thì tự hỏi mình: mình không trung thực với chính bản thân mình, không tôn trọng lời hứa với chính bản thân mình thì còn ai tôn trọng mình? Mình sợ cảm giác đó nên buộc phải làm. Và khi vượt qua giai đoạn khó khăn ban đầu (khoảng 20 bài viết) thì các bài sau viết dễ hơn nhiều. Trong suốt giai đoạn luyện thi mình viết khoảng hơn 100 bài. Nếu có ý tưởng thì viết lại các bài đã viết, mình tiến bộ dần dần theo cách đó.
Nhìn cái đề thì rất khó mà có ý tưởng để viết, nhưng hãy đặt bút xuống, gạch vài dòng chia làm hai đoạn tương ứng với hai vấn đề. Mỗi vấn đề phân tích cả hai mặt tốt/xấu, đúng/sai. Như vậy phần thân bài sẽ có 4 ý tương ứng với hai đoạn. Tiếp đó phân tích tại sao lại có 4 ý đó và cho ví dụ. Như vậy phần thân bài coi như xong. Phần mở bài và kết luận cứ theo một kiểu chung đã được soạn trước ở nhà. Khi làm được như vậy thì vào phòng thi mới viết kịp cả hai bài trong vòng 50 phút, còn lại 10 phút để sửa lỗi chính tả.

Tóm lại, mình xác định IELTS 6.5 không phải là việc dễ (nhất là với mình, mất kiến thức căn bản, bắt đầu từ tờ giấy viết nhiều nhưng sai, phải tẩy đi để viết lại) nhưng là việc có thể làm được. Để làm được cần có thời gian, phương pháp, trình tự và quan trọng nhất là ý chí. “Nơi nào có ý chí, nơi đó có con đường”. Mình chúc các bạn có thật nhiều nghị lực để vượt qua những khó khăn trong quá trình học, theo đuổi ước mơ du học của bạn, cho bạn và cho gia đình các bạn.”

Hằng
Quảng Trị, 26/12/2012

Nguồn: http://yume.vn/hangmam/article/kinh-nghiem-luyen-thi-ielts.35DB8755.html

Advertisements
 
Leave a comment

Posted by on July 8, 2013 in IELTS

 

(短いのパラグラフ) ベトナム料理の特徴と手羽先のヌックマムの作り方ー (Đoạn văn) Đặc trưng món ăn Việt Nam và cách làm món Cánh gà chiên nước mắm.

ベトナム料理は、色々な国の影響を受けていますが、ベトナム固有の特徴食べ物がたくさんあるので、他の国の食べ物と間違えないとおもいます。

Tuy món ăn Việt Nam bị ảnh hưởng bởi nhiều nước nhưng vì ở Việt Nam vẫn có rất nhiều món mang những nét đặc trưng vốn có nên tôi nghĩ là không thể nhầm lẫn với những món của nước khác được.

ベトナムは細長い国なので、地域によって気候が違います。それで、地方の料理は異なる特徴があります。北部の食べ物は味がよく塩辛いですが、中部はすっぱくて、辛いです。南部にいくと、甘い食べ物がたくさんたべられます。また、ベトナム人は、料理を作る時、調味料だけではなく、色々な香草を使っています。特に、ベトナムにはヌックマムとマムトムがあるので、それらを使って、おいしい料理を作ることができます。

Vì nước Việt Nam là nước có hình dạng thon dài, nên khí hậu khác nhau theo từng khu vực. Vì vậy, món ăn của từng địa phương cũng có đặc trưng riêng. Vị của món ăn Bắc Bộ thường thì mặn nhưng đồ ăn ở Trung Bộ thì chua và cay. Nếu đi về phía Nam thì lại có thể ăn được rất nhiều món ăn ngọt.

私は外国人の友達に “ベトナムの料理をお勧めてくれる”と聞かれた時、すぐ私の一番好きな料理を勧めます。名前は手羽先のヌクマム揚げで、これも南部の有名料理です。この料理はビールや酒のつまみにも良いですが、ご飯とも良く合うおかずです。

Khi mà tôi được bạn bè nước ngoài nói là ” Giới thiệu vài món ăn Việt Nam cho tôi được không?” , lập tức tôi giới thiệu món mà tôi thích nhất, tên là Cánh gà chiên nước mắm và cũng là món ăn nổi tiếng của miền Nam. Món ăn này vừa là “đồ nhắm” (mồi nhậu ^^) ngon của bia và rượu nhưng ăn cùng với cơm cũng rất là hợp.

手羽先のヌくマム揚げの材料は手羽先、ヌックマム、片栗粉、ニンニクと調味料です。この料理の作り方はあまり難しくないと思います。

Nguyên liệu của món Cánh gà chiên nước mắm là cánh gà, nước mắm, bột năng, tỏi và gia vị. Cách làm món này cũng không khó lắm đâu.

まず、ニンニクを刻みます。ボウルにニンニクと洗った 手羽先を全て(すべて)入れて、味をつけて、混ぜます。

Đầu tiên là bằm nhỏ tỏi. Cho toàn bộ tỏi bằm và cách gà đã rửa sạch vào tô, nêm gia vị và trộn đều.

次に、その手羽先は片栗粉(かたくりこ))をまぶして、さっと揚げにします。ヌクマムと砂糖(さとう)を水で溶(と)いておきます。

Kế đến, nhúng cánh gà vào bột năng và chiên sơ. Nước mắm và đường thì hoà tan sẵn trong nước.

それから、フライパンに油を熱し、刻んだ(きざんだ)ニンニクを入れ香り(かおり)が出てきたら、さっと揚げ手羽先を入れて熱を通します。ヌクマムを入れて全部によく絡めて、手羽先が黄色くなるまで揚げます

Sau đó, làm nóng chảo dầu, phi tỏi băm cho tới khi có mùi thơm, rồi cho cánh gà chiên sơ lúc nãy vào chiên. Cho nước mắm vào cho thấm đều và chiên cho tới khi cánh gà có màu vàng ruộm .

最後に、お皿に盛り付け(もりつけ)て出来(でき)あがりです.

Cuối cùng bày ra đĩa và hoàn tất.

Cua Đồng.

 
 

テーブルにも足がある?Cái bàn cũng có “chân” nữa sao ta?

           

「テーブルの足」や「ビンの口」などのように、体のどこかを使った言い方がだくさんありますが、日本語だけではなく、他の国の言葉にも昔から同じような言い方がありました。たとえば、同じことを英語でも“a leg of the table”, “the mouth of the bottle”と言います。足(leg)や口(mouth)は、だれでもよく知っているので「テーブルの下の所にあって、」「ビンの上の所で、」と長く明しなくても、上のように言えばすぐに分かるのです。

Có rất nhiều cách nói sử dụng một phần nào đó của cơ thể như là “cái chân ghế” hay là “cái miệng chai”, nhưng không chỉ tiếng Nhật mà từ xa xưa, ngôn ngữ của các nước khác cũng có cách nói như vậy. Ví dụ như trong tiếng Anh người ta cũng nói “cái chân bàn”, “cái miệng chai”. Vì ai cũng biết chân (leg) và miệng (mouth), nên cho dẫu là không giải thích dài dòng như là “Có…ở nơi dưới cái bàn”, “Ở phía trên cái chai có…”, thì nếu nói như cách ở trên người ta cũng hiểu được rồi.

これと同じような言葉の使い方は、まだほかにもたくさんあります。「パンの耳」がパンのどこのことか分かるだろうし、「月が山の上にあたまを出した」という言い方もあまり難しくはないと思います。また、「会社の顔」や「社長の手足」が何をたとえていっているのかも,少し考えてみれば分かるのではないでしょうか。

Vẫn còn rất nhiều cách sử dụng ngôn ngữ giống như vậy lắm. Nào là nói “Tai của bánh mì” thì cũng biết được là chỗ nào của bánh mì, nào là “Mặt trăng nhô đầu lên trên đỉnh núi”, cũng không khó hiểu lắm nhỉ. Thêm nữa, nếu nói ví von “Gương mặt của công ty” hay là “Tay chân của sếp” thì nếu thử suy nghĩ chút xíu chẳng phải là sẽ hiểu được ngay sao?

だれでもよく知っているものを使って、ほかのものを説明するというやり方は、一つのとても便利な、そして役に立つ言葉の使い方のです。使われる言葉も、顔、あたま、手、足など体のどこかだけではなく、いろいろな言葉が使われます。「本の山」や「目は心の窓」、それから「火の海」などというのも、よく知られている言い方です。同じような言い方をいろいろな国の言葉で並べて見ると面白いと思います。

Cách nói sử dụng thứ mà mọi người đều biết rõ để giải thích cho một thứ khác là 1 cách rất tiện lợi, thêm vào đó đây là cách nói sử dụng ngôn ngữ hiệu quả. Những từ ngữ được sử dụng không chỉ là khuôn mặt, đầu, tay, chân hay đâu đó trên cơ thể mà còn những từ ngữ khác nữa. “Một núi sách”, “Mắt là cửa sổ tâm hồn”, hay là “Biển lửa” cũng là những cách nói hay được dùng. Tôi nghĩ là nếu như thử sắp xếp cách nói tương tự nhau của các ngôn ngữ khác nhau thì sẽ thú vị lắm đây.

Nguồn:

Bản tiếng Nhật: https://www.facebook.com/lopct3c

Dịch Nhật-Việt: Cua Đồng

 
 

Sixteen Small Steps to Happiness. 16 bước để Hạnh phúc.

Bản tiếng Anh mình sưu tầm từ internet, mình thấy nó không quá khó thực hiện. Và bản thân cũng từng làm một vài điều nên thấy là tuy nó rất đơn giản, có vẻ chẳng có ý nghĩa gì, nhưng nó có thể làm mình suy nghĩ lạc quan hơn, cười nhiều hơn, thoải mái hơn. Vậy có phải là hạnh phúc hơn không nhỉ? 🙂

417786_304622309585875_527618574_n

1. push yourself to get up before the rest of the world – start with 7am, then 6am, then 5:30am. go to the nearest hill with a big coat and a scarf and watch the sun rise.

Cố gắng thức dậy trước cả thế giới- bắt đầu từ 7h sáng, sau đó là 6h, rồi 5h30. đi đến ngọn đồi gần nhất với một cái áo khoác dày, một chiếc khăn choàng và ngắm mặt trời mọc.

2. push yourself to fall asleep earlier – start with 11pm, then 10pm, then 9pm. wake up in the morning feeling re-energized and comfortable. 

Tự mình đi ngủ sớm hơn- bắt đầu từ 11h tối, rồi 10h, và 9h để sáng thức dậy thật tràn đầy năng lượng và thoải mái.

3. erase processed food from your diet. start with no lollies, chips, biscuits, then erase pasta, rice, cereal, then bread. use the rule that if a child couldn’t identify what was in it, you don’t eat it.

Loại bỏ mọi thực phẩm chế biến sẵn khỏi chế độ ăn uống của bạn. Bắt đầu với không kẹo, khoai tây chiên, bánh quy và sau đó là loại bỏ mì, gạo, ngũ cốc và bánh mì (cái này mình làm ko được đâu 😀 ). Dùng một quy tắc là nếu 1 đứa trẻ không biết có gì trong món đó thì bạn cũng ko ăn nó.

4. get into the habit of cooking yourself a beautiful breakfast. fry tomatoes and mushrooms in real butter and garlic, fry an egg, slice up a fresh avocado and squirt way too much lemon on it. sit and eat it and do nothing else. 

Làm quen với việc tự nấu cho mình một bữa sáng hoàn hảo. Xào cà chua và nấm trong bơ và tỏi, chiên 1 quả trứng, cắt 1 lát trái bơ và vắt nhiều chanh vào đó. ngồi ăn và không làm bất cứ điều gì khác.

5. stretch. start by reaching for the sky as hard as you can, then trying to touch your toes. roll your head. stretch your fingers. stretch everything.

Làm giãn cơ. Bắt đầu bằng việc vươn lên bầu trời hết mức có thể, sau đó cố gắng chạm vào ngón chân của bạn. Xoay đầu. Kéo giãn ngón tay. Kéo dãn tất cả mọi thứ.


396348_304622536252519_1566335466_n

6. buy a 1L water bottle. start with pushing yourself to drink the whole thing in a day, then try drinking it twice.

Mua 1 bình nước 1 lít. Bắt đầu với việc cố gắng uống hết trong 1 ngày, sau đó cố gắng uống gấp đôi như thế.

7. buy a beautiful diary and a beautiful black pen. write down everything you do, including dinner dates, appointments, assignments, coffees, what you need to do that day. 

Mua 1 quyển nhật ký đẹp và một cây viết mực đen thật đẹp. Viết tất cả mọi thứ bạn làm, gồm cả những cuộc hẹn ăn tối, cuộc họp, công việc, cà phê cà pháo, tất cả những việc cần làm ngày hôm đó.

8. strip your bed of your sheets and empty your underwear draw into the washing machine. put a massive scoop of scented fabric softener in there and wash.

Gỡ khan trải giường và dọn dẹp lại ngăn quần áo lót, cho chúng vào máy giặt. Cho vào một múc đầy nước xả vải thơm và giặt.

9. organise your room. fold all your clothes (and bag what you don’t want), clean your mirror, your laptop, vacuum the floor. light a beautiful candle.

Sắp xếp lại phòng ốc. Gấp quần áo ( và đóng gói những cái bạn không muốn), lau gương soi, laptop, hút bụi sàn nhà. Thắp thêm 1 ngọn nến thật đẹp.

10. have a luxurious shower with your favourite music playing. wash your hair, scrub your body, brush your teeth. lather your whole body in moisturiser, get familiar with the part between your toes, your inner thighs, the back of your neck.

Tắm thật sảng khoái trong lúc mở những bản nhạc yêu thích . Gội đầu, kì cọ cơ thể, đánh răng. Thoa kem dưỡng ẩm lên người, cả những kẽ ngón chân, đùi trong và sau gáy.

296871_235277073187066_1763916527_n

11. push yourself to go for a walk. take your headphones, go to the beach and walk. smile at strangers walking the other way and be surprised how many smile back. bring your dog and observe the dog’s behaviour. realise you can learn from your dog.

Đi dạo. Đeo tai nghe, đi ra biển và dạo bộ. Cười với mọi người đang đi chiều ngược lại và bạn sẽ ngạc nhiên khi biết có bao nhiêu nụ cười đáp lại. Mang theo cún cưng và quan sát hành động của nó. Bạn sẽ nhận ra là bạn cũng có thể học được từ cún cưng.

12. message old friends with personal jokes. reminisce.

Gửi những tin nhắn với những câu chuyện vui riêng tư. Hồi tưởng lại.

14. think long and hard about what interests you. crime? sex? boarding school? long-forgotten romance etiquette? find a book about it and read it. there is a book about literally everything. 

Nghĩ thật kỹ về điều gì làm bạn quan tâm. Tội phạm? Tình dục? Trường nội trú? Phép xã giao tình cảm đã lãng quên từ lâu? Tìm một quyển sách về nó và đọc. Có những quyển sách viết về chúng đúng từng chữ (theo nghĩa đen)

15. become the person you would ideally fall in love with. compliment people on their cute clothes. challenge yourself to not ridicule anyone for a whole day. then two. then a week. walk with a straight posture. look people in the eye. ask people about their story. talk to acquaintances so they become friends.

Hãy trở thành người lý tưởng mà bạn muốn yêu. Khen những bộ quần áo đẹp của mọi người. Thách thức bản thân không chế giễu bất kì ai trong suốt 1 ngày, 2 ngày, sau đó là 1 tuần. Đi bộ với tư thế thẳng. Nhìn vào mắt mọi người. Hỏi mọi người về câu chuyện của họ. Nói chuyện với những người quen để học trở thành những người bạn.

16. lie in the sunshine. daydream about the life you would lead. open your eyes. take small steps to make it happen for you.

Nằm dài trong ánh mặt trời. Mơ về cuộc sống bạn muốn có. Mở mắt ra và từng bước thực hiện nó.

Nguồn:

Tiếng Anh: http://emmaorwhatever.tumblr.com/post/50463252599/sixteen-small-steps-to-happiness

Dịch Anh-Việt: Cua Đồng

 
Leave a comment

Posted by on June 23, 2013 in 人生-Life-Cuộc sống

 

たとえる。So sánh ví von. Comparing.

忙しくて忙しくて、だれでもいいから一人でも多くの人に手伝って(てつだって)もらいたい。そんなとき、日本語では「猫(ねこ)の手も借りたいほどだ」とたとえて言います。たとえ猫が手伝ってくれてもそれほど役に立つとは思えませんが、何か口に出して言いたいと思って、こう言うのです。

Khi quá bận rộn, người ta thường muốn được ai đó dù là một người hay nhiều người giúp đỡ. Những lúc như vậy, trong tiếng Nhật người ta thường nói ví là “(Bận)Đến mức muốn mượn tay của con mèo luôn!”. Dù ta không nghĩ là dẫu con mèo giúp đỡ thì sẽ có ích nhưng ta cứ muốn thốt ra điều gì đó thôi.

When we are extremely busy, we usually want to be helped by any person, one person or many people. At that time, in Japanese, they simile ” I want to borrow even a cat’s hand!”. Although we don’t think that the help of cat is useful, we just want to say something out loud.

また、「私の家には庭があります。でも、狭いですよ。」と言いたければ、これも「猫」を使って、「猫の額ほどの庭があります」と言います。猫にも額(ひたい)の広い猫と狭い(せまい)猫がいると思うので、日本語の分かる猫に開かれ(ひらかれ)たら、「失礼じゃないですか」と怒られ(おこられ)てしまいそうです。

Thêm nữa, nếu muốn nói là : “Nhà tôi có một khu vườn. Nhưng nó rất hẹp”, thì cũng dùng “con mèo” để nói “Tôi có khu vườn bằng cái trán con mèo thôi”. Vì tôi nghĩ là trong loài mèo thì cũng có con mèo trán rộng và con mèo trán hẹp, nên nếu bị con mèo hiểu được tiếng Nhật nghe thấy thì sẽ bị nổi giận vì cho rằng “Chẳng phải là thất lễ hay sao?” (Ý nói chê con mèo trán hẹp ý ^^)

In addition, if we want to tell ” I have a garden. However, it’s so small”, we can also use “cat” to say ” I have a garden which is as small as cat’s forehead”. I think that there are small forehead cats as well as large forehead cats, so if a cat which can understand Japanese hears what we are saying, it might be angry because ” Is it so disrespectful?” ? (It’s mean we despise that all cats have got small forehead ^^)

まだまだたくさん「猫」のお世話になる便利な言い方はあるのですが、「猫に小判」という言い方ほど面白いものはないでしょう。小判は昔のお金ですから、今なら「猫に一万円」と言えば、意味が分かるでしょう。高い辞書を持っていても、全然(ぜんぜん)使わずに本棚に並べておくだけの人に、「猫に小判(こばん)だね」と言うのです。

Nhờ “con mèo” mà còn nhiều cách nói tiện dụng nữa nhưng hẳn là không có cái nào thú vị như là câu “ném tiền vàng cho con mèo” . “Đồng tiền vàng” là loại tiền cổ, bây giờ nếu nói “Ném 10000 Yên cho con mèo” thì chắn hẳn cũng hiểu được ý nghĩa của nó. “Ném tiền vàng cho con mèo” dùng để nói tới người dù đã có từ điển thật đắt tiền nhưng không hề dùng tới, lại chỉ xếp trên kệ sách thôi đấy. (chỉ sự lãng phí)

There are many useful ways of speaking, using “Cat”, but maybe there’s no way as interesting as this sentence “coin to cat!”. “Koban” is ancient money, now if we say “10000 Yen to cat!”, we can also understand the meaning. “Coin to cat!” used for implying a person who has expensive dictionary but doesn’t use, just put it in the bookshelf only. (it means wasting money)

猫だけではなく、犬、牛、馬など、人と昔から生活をしてきた動物たちを使った言い方がたくさんあります。皆さんの国の言葉にも「猫の手」や「猫の額」、そして、「猫に小判」などと同じような言い方がありますか。あれば是非(ぜひ)それを紹介してください。

Không chỉ có con mèo mà còn có rất nhiều cách nói sử dụng những con vật đã gắn bó với con người từ xa xưa như chó, trâu, ngựa… Ở nước bạn có những cách nói như là “Tay của mèo”, “Trán con mèo” hay “Ném tiền cho mèo” không? Nếu có thì hãy giới thiệu cho mọi người nhé! ^^

Various ways of speaking using not only cats but also close-knit animal such as dogs, buffaloes, horses… Those ways: “Cat’s hand”, “Cat’s forehead” or “Coin to cat” are used in your countries? If so, please introduce to everyone 🙂

Nguồn:

Tiếng Nhật: http://www.hoctiengnhatonline.vn/luyen-nghe-tu-vung-nang-cao/651–bai1.html

Dịch: Cua Đồng

 
 

Straw Millionaire-Địa chủ Rơm.

Hôm trước mình đã post chuyện Địa chủ Rơm, bản tóm tắt Nhật-Việt rồi (bạn có thể xem tại đây https://japengvietblog.wordpress.com/2013/06/10/%E3%82%8F%E3%82%89%E3%81%97%E3%81%B9%E9%95%B7%E8%80%85%E3%83%BCchang-dia-chu-rom/)

Hôm nay là bản Anh-Việt chi tiết hơn, thêm video (bằng tiếng Nhật) xem…cho vui hén 😉 Enjoy!!!!!!!!!!!!!!

Once upon a time there lived a young man named Yosaku. Not having a farm of his own, he wandered from village to village, helping other farmers and living off of the vegetables he received for his efforts. And with no home of his own, he slept in Buddhist temples, where he would pray to Kannon, the Goddess of Mercy. “Kannon, every day I work hard. I have no home of my own. Please give me a place to stay tonight. And let me find work again tomorrow.”

Ngày xửa ngày xưa, có một chàng trai trẻ tên là Yosaku. Vì không có ruộng của riêng mình nên anh ấy đã đi từ làng này sang làng khác để làm giúp những người nông dân khác và sống bằng chút hoa màu mà anh nhận được nhờ sự cố gắng của mình. Vì không có nhà nên anh thường ngủ trong những ngôi chùa thờ Phật, nơi mà anh ấy thường hay cầu khẩn với Phật Bà Quan Âm. ” Quan Âm Bồ Tát, mỗi ngày con đều làm việc chăm chỉ. Con vẫn không có một ngôi nhà. Hãy cho con một chỗ nghỉ lại tối nay. Và giúp con ngày mai lại tìm được việc làm.”

One night, Kannon appeared at Yosaku’s side, immersed in gold light, and said to him, “Wake up, Yosaku.” Kannon spoke to him: “Yosaku, you are an admirable man. However poor you may be you never complain and you help people for the smallest of pay. I’m going to provide you with a happy life. Tomorrow, the first thing you touch will reap great rewards for you.” With these words, Kannon disappeared.

Một đêm nọ, Phật Bà xuất hiện bên cạnh Yosaku, trong vầng hào quang sáng chói, nói với anh ấy rằng: “Mau dậy đi Yosaku.” Phật Bà nói: “Yosaku, con là một chàng trai đáng khâm phục. Dù nghèo khổ nhưng con không hề than vãn và còn giúp đỡ mọi người dù được trả thù lao rất ít. Ta sẽ cho con một cuộc sống hạnh phúc. Ngày mai, thứ đầu tiên con chạm vào sẽ là phần thưởng lớn cho con.” Nói xong những lời đó, Phật Bà biến mất.

The following day, as Yosaku headed out to work, he tripped on a stone on the roadside and fell down. “Ouch!” he exclaimed. When he stood up, he found himself holding a stalk of straw. “I wonder if this straw is what Kannon told me to hold on to. How is this going to make me happy?” Puzzled, he resumed walking.

Ngày hôm sau, vì Yosaku vội vã đi làm, nên anh ấy vấp phải hòn đá trên đường và ngã xuống. “Ối!”, anh ấy kêu lên. Khi đứng lên, anh thấy mình cầm trên tay một cọng rơm. “Không biết cọng rơm này có phải là thứ mà Phật Bà nói mình giữ lấy không nhỉ. Làm sao nó có thể làm mình hạnh phúc đây?”  Dù bối rối nhưng anh vẫn tiếp tục bước đi.

Suddenly, a horsefly flew by and began buzzing around his face. Yosaku caught it and tied it to the end of his straw. The bug tried to escape, but Yosaku held onto the other end of the stalk, so that the horsefly spun the straw around and around in circles, like an amusing toy. A wealthy boy who was passing by saw this and exclaimed to his elderly attendant, “I want one! I want one!” Yosaku gladly offered it to the boy. In return, the boy’s guardian gave him three oranges. “Wow, three oranges for a single piece of straw!” he thought happily, and again started down the road.

Bấ ngờ, một con ruồi trâu bay đến và cứ lượn xung quanh mặt anh. Yosaku bắt lấy nó và gắn nó lên đầu cọng rơm. Con ruồi cố thoát nhưng Yosaku đã nắm lấy đầu kia cọng rơm nên con ruồi cứ kéo cọng rơm quay vòng vòng, như một thứ đồ chơi thú vị. Một cậu bé con nhà giàu đi ngang qua, nhìn thấy nó và đòi người quản gia: “Tôi cũng muốn có! Tôi cũng muốn có!”. Yosaku tốt bụng đưa cho cậu bé. Đổi lại, người quản gia của cậu bé đưa cho anh 3 trái cam. “Woa, ba trái cam cho một cọng rơm!” , anh thấy thật vui và tiếp tục đi xuống phố.

Soon he came upon a distressed-looking woman. “Oh, it’s hot. I’m so thirsty that I think I’m going to faint! Please give me some water,” said the woman. “If these oranges would do, please have them,” said Yosaku, handing them to the woman. The woman ate them and soon regained her strength. “You’ve saved me. Please take this as a token of my thanks,” she said, handing Yosaku a bundle of woven silk cloth.
Không lâu sau, anh gặp một người phụ nữ trông rất khổ sở. “Ôi, nóng quá! Tôi khát muốn xỉu rồi! Làm ơn cho tôi xin một ít nước,” người phụ nữ nói. “Nếu những trái cam này có thể giúp cô thì xin hãy nhận lấy”, Yosaku nói và đưa cho người phụ nữ. Người phụ nữ ăn xong và trở nên khoẻ mạnh. “Anh đã cứu tôi. Hãy cầm lấy cái này xem như lời cảm ơn của tôi nhé!”, cô ấy nói và đưa cho Yosaku một cuộn vải lụa dệt.

“This expensive cloth must be a gift from Kannon,” Yosaku thought to himself as he continued on his way. Soon he came upon two samurai standing in the middle of the street. As he drew closer he saw that their horse, exhausted from the heat, was laying in the middle of the street. “What a useless horse!” exclaimed the samurai, who were at a loss as to what to do. Finally, Yosaku said to them, “Honorable samurai. If it would please you, how about exchanging your horse for this bundle of silk cloth?” The samurai, elated, said, “Great! Not only can we get rid of this horse, but you’ll give us a bundle of silk as well!” The samurai took the cloth, left the horse, and went on their way. Yosaku turned to the horse and said gently, “You’ve been in pain, haven’t you. Here, drink some water.” He gave the animal plenty of water, and the horse was soon on its feet again.

“Thứ vải quý giá này chắc hẳn là quà của Phật Bà Quan Âm rồi!” Yosaku vừa đi vừa nghĩ. Lát sau anh gặp hai vị võ sĩ đứng giữa đường. Khi đến gần, anh thấy ngựa của họ đã kiệt sức vì nóng và đang nằm giữa đường. “Thật là một con ngựa vô dụng!” người võ si không biết làm thế nào đành thốt lên. Cuối cùng, Yosaku nói với họ ” Thưa ngài, nếu có thể làm ngài hài lòng, ngài có muốn đổi con ngựa của ngài lấy cuộn vải lụa này không?” . Vị samurai vui mừng bảo, “Được chứ! Vừa không phải chịu đựng con ngựa này, vừa được một cuộn vải lụa!” Vị samurai lấy vài lụa, để lại con ngựa và bỏ đi. Yosaku quay lại với con ngựa và nói nhỏ nhẹ: ” Mày bị thương phải không? Uống chút nước đi nào!”. Anh ấy cho nó uống rất nhiều nước và chẳng mấy chốc nó đã đứng lên được.

Yosaku mounted the horse and rode to the edge of town, where he came upon a large house. People there were making travel preparations, piling luggage onto a cart. Yosaku spotted a man who looked like the owner of the house and, relating the details of his journey, asked him if he would like to buy the horse. The man listened to Yosaku’s story with great interest, and replied, “Sure, I’d be happy to buy your horse. But right now I have to go on a trip and don’t have any money to spare. Instead, why don’t I give you part of my rice paddy.” The owner also let Yosaku stay and take care of the house while he was away. Not only did Yosaku get his own paddy, but a place to live as well. This inspired him to work harder than ever.

Yosaku cưỡi ngựa và đi đến ven thị trấn, anh bắt gặp một ngôi nhà lớn. Mọi người đang chuẩn bị đi xa, đang chất hành lý lên xe ngựa. Yosaku thấy một người đàn ông trông như là ông chủ nhà nên anh ấy đã hỏi người đàn ông đó có muốn mua con ngựa hay không. Người đàn ông nghe câu chuyện của anh với vẻ thích thú bèn trả lời: “Hẳn rồi, ta rất vui khi mua con ngựa của anh. Nhưng giờ ta đang chuẩn bị đi và không có tiền để trả ngay lúc này. Thay vào đó, sao ta không đưa cho anh một phần ruộng lúa của ta nhỉ.” Vị chủ nhà còn cho Yasaku ở lại và chăm sóc ngôi nhà khi ông đi xa. Giờ thì không chỉ có ruộng mà của riêng mình mà Yosaku còn có chỗ để sống nữa. Điều này khiến anh làm việc chăm chỉ hơn trước nữa.


After some time the owner returned from his trip. The rice was growing abundantly and the house had been cleaned from wall to wall. Deeply impressed, he said, “Yosaku, you’re a fine young man. Why not marry my daughter and live in this house forever?” Yosaku happily accepted. He married the daughter and was blessed with adorable children. He continued to work hard and become very wealthy, and always helped those who were poor or in need. Because of his kindness, he came to be affectionately called “Warashibe Choja” (Lord Straw Stalk) by the villagers.
Một thời gian sau, vị chủ nhà trở về từ chuyến đi xa. Lúa đã mọc lên phủ khắp và căn nhà thì được dọn dẹp sạch sẽ mọi ngõ ngách. Vô cùng ấn tượng, ông nói, “Yosaku, anh là một người tốt. Hãy cưới con gái ta và sống ở đây mãi mãi nhé!?”. Yosaku vui vẻ nhận lời. Anh cưới cô con gái và may mắn có được những đứa trẻ đáng yêu. Anh tiếp tục chăm chỉ làm lụng và trở nên giàu có, lại luôn luôn giúp đỡ người nghèo. Vì sự tốt bụng đó mà anh được dân làng trìu mến gọi là “Địa chủ Rơm”.

Nguồn:

Tiếng Anh: http://web-japan.org/kidsweb/folk/warashibe/warashibe01.html

Dịch: Cua Đồng

 

わらしべ長者ーĐịa chủ Rơm.

Hơn một tháng rồi bận rộn nhiều thứ nên giờ mới có bài mới cho blog :). Đây là câu chuyện về chàng “Địa chủ rơm”, theo mình tìm hiểu thì nó có khá nhiều phiên bản, có chút khác biệt trong tình tiết nhưng cốt truyện thì cũng như nhau cả. Đây là một bản tóm tắt bằng tiếng Nhật mình mới dịch xong. Bữa sau mình sẽ bổ sung 1 bản tiếng Anh đầy đủ luôn nhé 🙂

むかし、むかし、ある所に正直者ですが、運の悪い男が住んでいました。朝から晩まで、働けど働けど、貧乏で運がありませんでした。 

ある日のことです。男は、最後の手段として、飲まず食わずで、観音さまにお祈りしました。
すると、夕方暗くなった時、観音さんが目の前に現われ、こう言いました。
「あなたは、このお寺を出るとき、転がって何かをつかみます。それを持って西に行きなさい。」
Ngày xửa ngày xưa, ở một nơi nọ có một chàng trai thật thà nhưng kém may mắn. Dẫu làm việc từ sáng tới tối mịt, nhưng vẫn cứ sống bất hạnh trong nỗi nghèo khó.

Một ngày nọ, không còn cách nào khác hơn, chàng trai đã không ăn không uống, đi đến cầu khẩn Phật Bà Quan Âm.

Ngay lập tức, khi trời trở nên tối đi, Phật Bà Quan Âm hiện ra trước mắt và nói thế này:

“Khi bước ra khỏi ngôi chùa này, con sẽ té ngã và bắt được một cái gì đó. Hãy cầm nó và đi về phía Tây”
確かに、男は、お寺を出ようとしたとき、転がって、何かをつかみました。それは、一本のわらでした。何の役にもたたないと思いましたが、男は、わらを持って西に歩いて行きました。
あぶが飛んできました。男はあぶをつかまえると、わらの先に縛りつけ、また歩いて行きました。

Và thế là khi chàng trai vừa ra khỏi chùa thì bị ngã, rồi bắt được cái gì đó. Đó là một cọng rơm. Mặc dù anh nghĩ là nó chẳng có ích lợi gì cả, nhưng anh vẫn giữ nó và đi về hướng Tây.

Có một con ruồi bay đến. Chàn trai tóm lấy và gắn vào đầu cọng rơm và tiếp tục đi.


町にやってくると、赤ん坊が、わらの先のあぶを見て、泣き止みました。
うれしそうな赤ん坊を見て、男は、わらを赤ん坊にやりました。代わりに、赤ん坊のお母さんから、男はミカンを三つもらいました

Khi chàng trai ghé qua thị trấn,  có một em bé nhìn thấy con ruồi ở trên đầu cọng rơm và nín khóc ngay.

Nhìn thấy em bé có khuôn mặt rạng rỡ, chàng đã tặng cọng rơm ấy cho bé. Đổi lại, chàng trai nhận được  3 trái quýt từ mẹ của em bé.


ミカンを三つ持って、男はさらに西に歩いて行きました。しばらく行くと、娘さんが道端で苦しんでいるのを目にしました。水を欲しがっていたので、男はミカンをあげました。じきに、娘さんはよくなりました。代わりに、男は、きれいな絹の布をもらいました。
絹の布を持って、男はさらに西に歩いて行きました。しばらく行くと、サムライと元気のない馬に出会いました。美しい布を見て、サムライは、馬と交換するよう言うと、布を持って東の方へ行ってしまいました。男が、夜通し馬の面倒を見てやると、馬は、朝には元気になっていました。

Cầm 3 trái quýt, chàng trai tiếp tục đi về phía Tây. Đi được một lát thì anh thấy một người phụ nữ đang khổ sở bên vệ đường. Vì cô ấy đang rất khát nước nên chàng trai đã tặng cho 3 trái quýt. Chẳng mấy chốc người phụ nữ trở nên khoẻ hơn. Nhưng đổi lại, chàng lại nhận được một xấp vải lụa rất  đẹp.

Cầm xấp vải lụa, chàng lại lên đường đi về phía Tây. Vừa đi được một quãng thì gặp một người võ sĩ cùng với một con ngựa không được khoẻ mạnh. Vừa nhìn thấy xấp vải lụa đẹp, người võ sĩ đã nói muốn đổi ngựa để lấy vải, và rồi cầm xấp vải đi về phía Đông. Chàng trai đã chăm sóc con ngựa suốt đêm và đến sáng hôm sau thì nó trở nên khoẻ mạnh.

 


馬を連れて、男はさらに西に歩いて行きました。城下町にやってくると、長者さんが、馬を見てたいそう気に入りました。男は長者さんの家に招かれました。娘さんが、長者さんと男に、お茶を持ってきました。
何と、男がミカンをあげた娘さんでした。長者さんは、不思議な縁と男のやさしさに心打たれ、娘を男に嫁がせることにしました。
男は、観音さまに言われたとおり、わら一本で長者になりました。村人からは、「わらしべ長者」と呼ばれました。

Chàng trai cưỡi ngựa và lại đi về phía Tây. Vừa đến kinh thành thì có một vị điền chủ nhìn thấy con ngựa và ra chiều ưng ý. Chàng trai được mời đến nhà của điền chủ. Con gái của ông ấy cũng đem trà đến cho cha và chàng trai.

Không biết như thế nào mà đó chính là người phụ nữ chàng đã tặng 3 trái quýt. Vị điền chủ thấy đây là duyên số kì lạ, lại cảm động vì sự tốt bụng của chàng trai nên đã quyết định gả con gái cho chàng.

Đúng như lời Phật Bà Quan Âm đã phán, chàng trai đã trở thành điền chủ chỉ nhờ vào một cọng rơm. Từ đó chàng được dân làng gọi là “Điền chủ rơm”.

Nguồn:

Tiếng Nhật: http://www.geocities.co.jp/HeartLand-Gaien/7211/Japanese/warashibej.html

Dịch Nhật Việt : Cua Đồng